Thành hoàng làng thường được chia thành hai nhóm lớn: thiên thần (hay nhiên thần), tức các vị gốc từ trời, núi, sông, đất, và nhân thần, tức những người từng sống thật hoặc được tin là đã sống: danh tướng, người hiền, người có công lập làng, mở nghề. Ngoài hai nhóm ấy còn một lớp thần dân gian được làng thờ theo lời kể riêng, triều đình không phong. Một làng có thể thờ một vị, cũng có thể thờ cùng lúc cả thần núi lẫn danh tướng.
Biết thần làng mình thuộc loại nào giúp hiểu vì sao lễ hội làng có trò này mà không có trò kia, vì sao đình hướng về phía núi hay phía sông, và vì sao làng mình với một làng xa lại thờ chung một vị.
Bảng phân loại thường dùng
Cách chia dưới đây là cách giới nghiên cứu tín ngưỡng hay dùng (Nguyễn Duy Hinh, Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam; Toan Ánh, Nếp cũ – Tín ngưỡng Việt Nam). Ranh giới giữa các nhóm không tuyệt đối: nhiều vị vừa là thần núi vừa được "nhân hoá" thành người có quê quán, có cha mẹ trong thần tích.
| Nhóm | Gốc | Ví dụ hay gặp | Dấu hiệu nhận biết ở đình |
|---|---|---|---|
| Thiên thần, nhiên thần | Núi, sông, đất, mây mưa sấm chớp, hoặc vị thần "từ trời giáng xuống" | Tản Viên, Cao Sơn, thần sông Tô Lịch (Long Đỗ), các vị thần đất, thần mây mưa ở nhiều làng | Danh hiệu có chữ Sơn (núi), Thuỷ (nước), Thổ (đất), Long; lễ có cầu mưa, rước nước |
| Nhân thần là danh nhân | Tướng lĩnh, quan lại, người có công với nước, được nhiều làng thờ | Trương Hống – Trương Hát, Lý Phục Man, Phùng Hưng, Đức Thánh Trần | Thần tích có năm tháng, triều đại, trận đánh; lễ có tế võ, rước kiệu, trò diễn trận |
| Nhân thần là người của làng | Người lập làng, khai khẩn ruộng đất, dạy nghề, đỗ đạt, làm việc nghĩa | Các vị khai canh, khai cư; tổ nghề được tôn làm thành hoàng ở làng nghề (chỉ nhắc) | Ban thờ tiền hiền, hậu hiền đặt cạnh; nhiều dòng họ trong làng nhận là hậu duệ |
| Thần theo lời kể riêng | Người chết "đúng giờ thiêng", người lạ chết ở làng, hoặc thần gốc không rõ | Các vị trong lời kể dân gian (xem bài riêng về những thành hoàng "kỳ lạ") | Không có sắc, hoặc có "lễ hèm" diễn lại tích thần |
Thiên thần và nhiên thần: những vị gốc núi sông
Làng lúa nước sống nhờ đất, nước, mưa đúng mùa, nên những vị thần tự nhiên có mặt rất sớm. Có vị được thờ trực tiếp như một quyền năng của núi sông, có vị được kể lại thành người: Tản Viên vốn là thần núi Ba Vì nhưng trong lời kể lại thành một người có vợ là Mỵ Nương, con gái vua Hùng. Cao Sơn, Quý Minh trong thần tích nhiều làng vùng Phú Thọ, Hà Nội được kể là tướng của Tản Viên, nhưng cái tên "Cao Sơn" (núi cao) vẫn giữ dấu vết một vị thần núi.
Một ví dụ dễ nhớ là đình Đình Bảng (nay thuộc Bắc Ninh), một trong những ngôi đình gỗ lớn của miền Bắc. Theo tư liệu di tích, đình thờ ba vị thần gắn với núi, nước và đất (thường được ghi là Cao Sơn, Thuỷ Bá, Bạch Lệ đại vương) cùng sáu vị có công lập làng. Một ngôi đình mà thờ đủ "núi – nước – đất – người", gần như tóm tắt cả thế giới quan của một làng nông nghiệp.
Nhân thần là danh nhân: vì sao nhiều làng thờ chung một vị
Có những vị được hàng chục, hàng trăm làng thờ. Lý do thường thấy:
- Vị ấy từng đi qua, đóng quân hoặc lập công ở vùng đó. Hai anh em Trương Hống, Trương Hát, theo Việt điện u linh là tướng thời Triệu Việt Vương, được thờ ở nhiều làng dọc sông Cầu, sông Thương, những vùng gắn với lời kể về các ông.
- Vị ấy được triều đình phong ở bậc cao, nên làng xin thờ để thần làng mình có danh hiệu được công nhận.
- Làng mới tách ra từ làng cũ mang theo thần của làng gốc.
Lý Phục Man (theo Việt điện u linh là tướng của Lý Nam Đế thế kỷ 6) được thờ ở làng Yên Sở (Hà Nội); Phùng Hưng, người được tôn là Bố Cái Đại Vương cuối thế kỷ 8, được thờ ở Đường Lâm (Sơn Tây cũ, Hà Nội) và nhiều nơi khác. Đức Thánh Trần được thờ làm thành hoàng ở không ít làng, bên cạnh hệ đền thờ riêng của ngài. Với những vị có sử chép, người đi lễ có thể đối chiếu: phần nào sử ghi, phần nào là thần tích làng kể thêm.
Nhân thần là người của làng
Nhiều làng chọn thờ chính người đã đưa dân đến khai hoang, đắp đê, lập chợ. Ở Nam Bộ, nơi làng mới lập từ thế kỷ 17–19, lớp thần này đặc biệt rõ, đi cùng ban thờ tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ (bài về đình Nam Bộ trong chuyên mục này kể kỹ). Ở làng nghề, đôi khi tổ nghề được tôn làm thành hoàng; chuyện tổ nghề thuộc chuyên mục khác, ở đây chỉ cần biết đó cũng là một dạng nhân thần.
Lớp thần này gắn với họ hàng trong làng rất chặt. Ngày tế thần có khi trùng ngày giỗ của dòng họ nhận là hậu duệ, và trong lễ, đại diện họ ấy được ngồi chiếu trên.
Làng chọn thần thế nào
Không có một quy trình chung, nhưng từ các thần tích và hương ước có thể thấy mấy con đường:
- Thờ từ khi lập làng: vị thần gắn với gò đất, khúc sông, cây cổ thụ nơi làng dựng.
- Thờ theo sự tích địa phương: làng tin rằng vị ấy sinh ra, đi qua, hoặc "hoá" (mất) ở đất làng.
- Thờ theo sắc ban: triều đình hoặc quan địa phương giao làng thờ một vị có công, nhất là sau chiến tranh.
- Thờ thêm khi nhập làng: hai, ba thôn gộp lại thì đưa thần của từng thôn về chung một đình.
- Đổi hoặc ghép thần: có làng vì muốn được sắc phong nên ghép thần cũ vào danh hiệu một vị nổi tiếng. Giới nghiên cứu ghi nhận hiện tượng này, nhưng từng trường hợp cụ thể cần tư liệu làng, không nên đoán.
Chính vì những lớp chồng lên nhau ấy mà một vị thần làng có thể vừa có danh hiệu chữ Hán dài trên sắc, vừa có một cái tên Nôm dân làng quen gọi.
Cách tìm ra thần làng mình thuộc loại nào
- Đọc danh hiệu trên bài vị, sắc phong: chữ Sơn, Thuỷ, Long, Thổ gợi thần tự nhiên; chữ như "tướng quân", "đại vương" kèm họ tên gợi nhân thần.
- Hỏi ngày tế và lý do: ngày sinh, ngày hoá của thần thường nằm trong thần tích; thần tự nhiên thì lễ hay gắn mùa vụ.
- Xem các trò trong hội: cầu mưa, rước nước gợi nhiên thần; diễn trận, đua thuyền có khi gắn tích một vị tướng.
- So với làng xung quanh: nếu nhiều làng lân cận cùng thờ một vị, rất có thể đó là danh nhân có lời kể trong vùng.
Góc nhìn hôm nay
Thần làng không cần "to" mới đáng quý. Một vị thần núi chỉ làng mình thờ giữ lại ký ức về ngọn đồi đã che lũ; một vị tiền hiền giữ lại câu chuyện ai đã dắt dân đến đây. Hỏi đúng "thần làng mình là ai, thuộc loại nào" là bước đầu để giữ những câu chuyện ấy. Nếu muốn đọc thêm, Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái có bản dịch phổ thông, đọc vài truyện là thấy cách người xưa biến núi sông thành người; sách của Nguyễn Duy Hinh cho cái nhìn tổng quát hơn về cách phân loại.
Câu hỏi thường gặp
Thiên thần và nhân thần khác nhau thế nào?
Thiên thần (nhiên thần) là các vị gốc từ núi, sông, đất, trời, như Tản Viên hay Cao Sơn. Nhân thần là người từng sống thật hoặc được tin là đã sống: danh tướng, người hiền, người lập làng. Nhiều thiên thần trong thần tích cũng được kể như người có quê quán, cha mẹ.
Vì sao nhiều làng thờ chung một vị thành hoàng?
Thường vì vị ấy từng lập công hoặc gắn lời kể ở vùng đó, vì được triều đình phong bậc cao nên làng xin thờ, hoặc vì làng mới tách ra mang theo thần của làng gốc. Trương Hống – Trương Hát được thờ ở nhiều làng ven sông Cầu là một ví dụ.
Một đình có thể thờ nhiều thành hoàng không?
Có. Nhiều đình thờ hai, ba vị, ví dụ đình Đình Bảng (Bắc Ninh) theo tư liệu di tích thờ ba vị thần núi, nước, đất cùng sáu vị có công lập làng. Làng gộp từ nhiều thôn cũng thường đưa thần các thôn về một đình.
Làm sao biết thành hoàng làng mình là ai?
Xem danh hiệu trên bài vị và sắc phong, hỏi thủ từ về thần tích và ngày tế, đọc bảng giới thiệu di tích nếu đình đã được xếp hạng. Có thể nhờ người đọc Hán Nôm đọc bản thần tích hoặc sắc của làng.