Linh ThiêngWiki
Tìm
Đình làng & Thành hoàng

Đình làng thờ gì: hậu cung, long ngai, bài vị và hòm sắc phong

Đình làng thờ Thành hoàng bằng long ngai và bài vị đặt trong hậu cung, cạnh hòm sắc phong và thần tích. Biết ba lớp không gian để vào đình nhìn đúng chỗ.

Đình làng thờ gì: hậu cung, long ngai, bài vị và hòm sắc phong

Đình làng thờ Thành hoàng, vị thần được cả làng tôn làm người bảo hộ. Ở phần lớn đình Bắc Bộ, thần không có tượng: thần "ngự" trên một chiếc long ngai sơn son thếp vàng, trước ngai là bài vị ghi danh hiệu, cạnh đó là hòm đựng sắc phong và thần tích. Mọi thứ ấy nằm ở hậu cung hoặc cung cấm, phía sau cùng của đình, thường đóng cửa quanh năm và chỉ mở trong ngày lễ.

Đình còn là nơi làng họp việc, xử kiện, ăn khao, mở hội. Vì vậy một ngôi đình có hai phần đời sống chồng lên nhau: phần thờ ở trong sâu, phần sinh hoạt ở ngoài rộng. Biết phần nào là phần nào thì vào đình sẽ không lóng ngóng, và cũng nhìn ra được nhiều thứ hơn người chỉ đi ngang chụp ảnh.

Đi từ ngoài vào: ba lớp không gian của một ngôi đình

Bố cục đình mỗi làng một khác, nhưng đi từ cổng vào thường gặp ba lớp. Kiến trúc và chạm khắc chỉ nhắc ở đây cho dễ định hướng; phần chi tiết thuộc các chuyên mục khác.

LớpGồm những gìChức năng thờ tựAi được vào
Ngoài cùngNghi môn (cổng), sân đình, có khi hồ nước, giếng, tả mạc – hữu mạc (hai dãy nhà phụ hai bên)Nơi tụ hội, đặt cỗ, chuẩn bị rướcMọi người
GiữaToà đại đình (đại bái), gian giữa có hương án, hai bên là các gian, chái; nhiều đình cổ có sàn gỗNơi tế lễ, dâng hương, ngồi theo ngôi thứ khi làng họpDân làng, khách thắp hương
Trong cùngHậu cung (toà nhỏ nối phía sau, tạo hình chữ Đinh hoặc chữ Công) hoặc cung cấm ở gian giữaNơi thần ngự: long ngai, bài vị, mũ áo thờ, hòm sắcThủ từ, chủ tế, người được làng cử

Một chi tiết người làng hay tự hỏi: vì sao đình làng mình có hậu cung còn đình làng bên thì không. Các nhà nghiên cứu như Hà Văn Tấn và Nguyễn Văn Kự trong sách Đình Việt Nam cho biết nhiều ngôi đình thế kỷ 16–17 ban đầu chưa có hậu cung; thần được thờ ngay trong một khám thờ ở gian giữa toà đại đình. Hậu cung phần lớn được làm thêm về sau, nhất là từ thế kỷ 18–19, khi việc thờ thần được coi trọng hơn và người ta muốn tách chỗ thần ngự ra khỏi chỗ họp làng. Nhìn vào chỗ nối giữa đại đình và hậu cung, nhiều khi thấy rõ hai đợt làm khác nhau: gỗ khác màu, đầu kèo khác kiểu.

Hậu cung: vì sao luôn đóng cửa

Hậu cung còn được gọi là cung cấm, cung thờ. Chữ "cấm" nói đúng tinh thần của nó: không phải nơi tham quan. Cửa thường là cửa bức bàn hoặc cửa võng chạm, khoá kín. Dân làng tin rằng chỗ thần ngự phải tĩnh và sạch, nên chỉ người đã trai giới (tắm gội, kiêng cữ trước lễ) mới bước vào.

Hậu cung thường chỉ mở vào các dịp:

  • Lễ mộc dục (tắm tượng, lau ngai, thay áo cho thần) trước kỳ hội;
  • Ngày tế chính trong năm, khi phải thỉnh bài vị hoặc sắc ra rước;
  • Lễ cáo khi làng có việc lớn như tu sửa đình, chuyển đồ thờ.

Người ngoài đến thăm thì thắp hương ở hương án gian giữa là đủ lễ. Nếu thật sự muốn xem bên trong, hãy hỏi thủ từ hoặc ban quản lý di tích; nhiều nơi sẵn lòng mở hé cửa để khách nhìn từ ngoài vào, nhưng chụp ảnh thì nên xin phép trước.

Long ngai và bài vị: chỗ thần ngự

Long ngai

Long ngai là chiếc ghế có tựa, tay vịn chạm rồng, sơn son thếp vàng, mô phỏng ngai vua. Đặt thần trên ngai rồng là cách làng nói rằng vị thần của mình được triều đình công nhận như một bậc tôn quý. Ngai thường đặt trong một khám thờ (long khám) có cửa và rèm, trên một bệ cao. Trên ngai có khi đặt mũ thờ, áo bào gấp, đôi hia, như thể thần đang ngồi.

Bài vị

Bài vị (còn gọi thần vị) là tấm gỗ đứng trên đế, sơn son, viết hoặc khắc chữ Hán ghi danh hiệu thần, thường kèm các mỹ tự (chữ đẹp ca ngợi) mà triều đình đã phong. Bài vị là "tên" của thần đặt trước mặt người lễ. Khi rước, chính bài vị và sắc phong được đặt lên kiệu chứ không phải cả chiếc ngai to.

Vì sao đình Bắc Bộ ít tượng

Phần lớn đình thờ thần bằng ngai và bài vị, ít đắp tượng. Có mấy cách giải thích đi cùng nhau: thờ bài vị là lối thờ theo lễ nghi Nho giáo mà triều đình khuyến khích; nhiều thần làng không có hình dung cụ thể để tạc; và với làng, cái "danh" được sắc phong quan trọng hơn cái "hình". Dù vậy vẫn có đình, nhất là đình thờ nhân thần có lai lịch rõ, đặt tượng thần. Đó không phải sai lệ, chỉ là cách mỗi làng chọn.

Hòm sắc và hộp thần tích: "giấy tờ" của vị thần

Bên cạnh ngai thường có một hoặc vài chiếc hòm gỗ sơn son, nắp vẽ rồng hoặc chữ. Đó là hòm sắc, đựng các đạo sắc phong triều đình ban cho thần của làng qua nhiều đời vua. Có làng còn một hộp riêng đựng thần tích (bản chép sự tích vị thần) hoặc ngọc phả (bản thần tích được coi là chính thức, trang trọng).

Với người làng, hòm sắc là thứ quý nhất trong đình, quý hơn đồ đồng hay câu đối. Sắc là bằng chứng thần được công nhận; mất sắc, theo nếp cũ, là làng mất một phần danh dự. Vì thế nhiều nơi xưa không để hòm sắc ở đình mà giao cho thủ từ hoặc một gia đình tin cẩn cất giữ, đến ngày lễ mới rước ra.

Đọc một đạo sắc nói gì, các bậc thần chia thế nào, là chuyện riêng của bài Sắc phong thần là gì trong chuyên mục này.

Gian giữa: những thứ ai cũng thấy

Đứng trước gian giữa đại đình, nhìn từ ngoài vào, thường có:

  • Hương án: án thờ dài đặt bát hương, đỉnh đồng (lư hương có nắp), đôi đèn, mâm bồng. Đây là chỗ khách thắp hương.
  • Hạc thờ đứng trên lưng rùa, ngựa thờ hai bên.
  • Bát bửu và lỗ bộ: giá binh khí gỗ (đao, kích, phủ việt, chấp kích…) dựng hai bên, gọi chung là nghi trượng, thể hiện thần được tôn như bậc quân vương.
  • Kiệu và long đình: kiệu bát cống (tám người khiêng) để rước, long đình (khám nhỏ hình mái nhà) để đặt bài vị, sắc khi rước. Nhiều đình cất kiệu ở gian bên.
  • Hoành phi, câu đối ca ngợi thần, đọc kỹ đôi khi thấy cả tên thần và năm làng cung tiến.

Ý nghĩa từng món đồ thờ được kể kỹ ở chuyên mục Linh vật & đồ thờ. Ở đây chỉ cần nhớ: đồ ở gian giữa là "nghi vệ" bày ra phía trước, còn thứ thật sự được thờ là ngai, bài vị và sắc nằm phía trong.

Một ngôi đình có thể thờ mấy vị

Không ít đình thờ hai, ba vị thần cùng lúc. Có làng thờ một vị thần núi và một vị thần sông; có làng thờ một danh tướng và người lập làng; có làng do sáp nhập nhiều thôn nên đưa thần các thôn về chung một đình. Khi đó trong hậu cung có thể đặt nhiều ngai, ngai vị chính ở giữa, các vị khác hai bên.

Ngoài thần chính, nhiều đình còn có ban thờ tiền hiền, hậu hiền (người có công lập làng, mở mang làng) hoặc ban thờ các quan viên có công đóng góp. Những ban này thường đặt ở gian bên, không đặt trong hậu cung. Vì sao có thiên thần, nhân thần, và làng chọn thần thế nào, xem bài về phân loại thành hoàng trong chuyên mục này.

Đi thăm một ngôi đình: những chỗ nên tìm

Lần tới vào một ngôi đình, thử đi theo trình tự này. Mười lăm phút là đủ để hiểu đình làng ấy hơn hẳn.

  1. Ngoài sân: tìm bia đá. Bia công đức, bia tu sửa thường ghi năm dựng, năm sửa, đôi khi ghi cả danh hiệu thần.
  2. Trước gian giữa: đọc bức hoành phi chính và câu đối hai cột cái. Chữ trên đó hay nhắc đến công tích hoặc danh hiệu thần.
  3. Nhìn sâu vào trong: xác định đình có hậu cung riêng hay thờ ở cung cấm gian giữa. Xem chỗ nối các toà để đoán đình làm một đợt hay nhiều đợt.
  4. Hỏi thủ từ: đình thờ mấy vị, có còn sắc phong không, sắc năm nào, ngày tế chính là ngày nào. Đây là câu hỏi người giữ đình thường vui lòng trả lời nhất.
  5. Tìm bảng giới thiệu di tích: nếu đình đã được xếp hạng, bảng ở sân thường tóm tắt thần được thờ và niên đại.

Muốn so sánh, có thể bắt đầu bằng vài ngôi đình được giới nghiên cứu nhắc đến nhiều như đình Tây Đằng (Ba Vì cũ, Hà Nội), đình Thổ Hà và đình Đình Bảng (nay thuộc Bắc Ninh). Đọc thêm: Hà Văn Tấn – Nguyễn Văn Kự, Đình Việt Nam; Toan Ánh, Nếp cũ – Hội hè đình đám; Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, phần nói về việc thờ thần.

Góc nhìn hôm nay: kính trọng mà không ngại

Đình làng là nơi thiêng, nhưng không phải nơi đáng sợ. Cái thiêng của đình, xét cho cùng, là ký ức của cả làng gom vào một chỗ: tên vị thần, những đạo sắc qua mấy trăm năm, những lần dân làng góp gỗ góp công sửa đình. Hiểu như vậy thì cách cư xử tự nhiên đúng: ăn mặc kín đáo, nói khẽ, không ngồi lên sàn hay bệ thờ, không tự ý mở cửa hậu cung, không đặt tiền lẻ lên ngai hay vào tay tượng. Muốn đóng góp gì thì hỏi ban quản lý di tích.

Với người làng, việc đáng làm nhất có lẽ là ghi lại: chụp ảnh hòm sắc (khi được phép), chép lại hoành phi câu đối, hỏi các cụ ngày tế và tục lệ cũ. Nhiều đình đã mất sắc, mất thần tích chỉ trong vài chục năm; một cuốn sổ ghi chép của con cháu đôi khi là thứ còn lại duy nhất.

Câu hỏi thường gặp

Đình làng thờ ai?

Đình làng thờ Thành hoàng, vị thần bảo hộ của làng. Đó có thể là thần núi, thần sông, một danh nhân, một vị tướng hoặc người có công lập làng. Nhiều đình thờ hai, ba vị cùng lúc, kèm ban thờ tiền hiền, hậu hiền ở gian bên.

Hậu cung trong đình là gì?

Hậu cung là phần trong cùng của đình, nơi đặt long ngai, bài vị, mũ áo thờ và hòm sắc của thần. Hậu cung thường đóng cửa, chỉ thủ từ và chủ tế được vào trong dịp lễ. Khách đến thăm thắp hương ở hương án gian giữa.

Vì sao đình làng không có tượng thần?

Phần lớn đình Bắc Bộ thờ thần bằng long ngai và bài vị theo lối thờ Nho giáo, coi trọng danh hiệu được sắc phong hơn hình tượng. Nhiều thần làng cũng không có hình dung cụ thể để tạc. Tuy vậy vẫn có đình đặt tượng, nhất là khi thờ nhân thần có lai lịch rõ.

Hòm sắc trong đình đựng gì?

Hòm sắc đựng các đạo sắc phong mà triều đình ban cho thần của làng qua các đời vua. Có làng còn hộp riêng đựng thần tích, ngọc phả. Xưa nhiều nơi giao hòm sắc cho thủ từ hoặc gia đình tin cẩn cất giữ, đến lễ mới rước ra đình.

Vào đình có được chụp ảnh không?

Sân đình và toà đại đình thường chụp được. Riêng hậu cung, ngai thờ và sắc phong thì nên hỏi thủ từ hoặc ban quản lý trước, vì đó là phần thiêng nhất với người làng. Không dùng đèn flash chiếu thẳng vào đồ sơn son thếp vàng cũ.

Mở app Linh Thiêng

Viếng đền, phủ, miếu, núi thiêng dựng 3D cùng người thật

Mở app Linh Thiêng

Bài viết liên quan

Mở app Linh Thiêng

Viếng đền, phủ, miếu, núi thiêng dựng 3D cùng người thật

Mở app Linh Thiêng Xem app khác