Linh ThiêngWiki
Tìm
Đình làng & Thành hoàng

Tế lễ ở đình: chủ tế, đông xướng tây xướng, văn tế và trình tự buổi tế

Tế đình do chủ tế đứng đầu, có bồi tế, nội tán, chấp sự và đông xướng tây xướng hô lễ. Phần cốt lõi là ba tuần rượu, đọc văn tế, ẩm phúc rồi đốt văn tế.

Tế lễ ở đình: chủ tế, đông xướng tây xướng, văn tế và trình tự buổi tế

Tế lễ ở đình là nghi thức dâng hương, rượu và văn tế lên thần làng theo một trình tự cố định, do một chủ tế đứng đầu, có bồi tế, chấp sự, nội tán, người đọc văn tế và hai người xướng lễ gọi là đông xướng, tây xướng. Phần cốt lõi là ba tuần rượu (sơ hiến, á hiến, chung hiến), xen giữa là đọc văn tế, kết bằng ẩm phúc (uống chén rượu thần ban) và đốt văn tế. Người đứng tế xưa phải là bậc cao niên, có danh vọng, gia đình song toàn và đã trai giới sạch sẽ.

Một buổi tế có thể kéo dài từ bốn mươi phút đến vài giờ, tuỳ làng. Nhìn bên ngoài có vẻ là những động tác lặp lại, nhưng mỗi tiếng hô đều có nghĩa, và biết nghĩa thì xem tế sẽ thấy rõ cấu trúc.

Làng tế vào những dịp nào

Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục kể lại các kỳ tế chính của làng Bắc Bộ xưa:

  • Lễ Kỳ phúc (cầu phúc) thường vào mùa xuân, cầu cho cả năm yên ổn, mùa màng tốt.
  • Lễ Thường tân (mừng cơm mới) vào mùa thu, dâng thần lúa gạo vụ mới.
  • Ngày sinh, ngày hoá của thần theo thần tích, thường là ngày hội chính.
  • Tế cáo khi làng có việc lớn: sửa đình, nhận sắc mới, rước thần.

Người ta gọi gọn là "xuân thu nhị kỳ" (hai kỳ xuân, thu). Ở Nam Bộ, lễ tế chính nằm trong lễ Kỳ Yên của đình (có bài riêng trong chuyên mục Lễ hội đền).

Ai đứng trong đội tế

VaiSố người thường gặpViệc làm
Chủ tế1Đứng giữa, thay mặt cả làng dâng hương, dâng rượu, lạy, nhận rượu phúc
Bồi tế2 hoặc 4Đứng sau chủ tế, cùng lạy theo, thay chủ tế khi cần
Đông xướng, tây xướng2Đứng hai bên, hô các tiết lễ bằng âm Hán Việt để cả đội làm theo
Nội tán2Dẫn chủ tế đi lên, đi xuống, chỉ chỗ quỳ, chỗ đứng
Chấp sự4 đến 8 hoặc hơnBưng hương, đài rượu, khăn, đỉnh trầm; chia hai bên đông, tây
Độc chúc1Đọc văn tế (chúc văn)
Phường nhạctuỳ làngPhường bát âm, trống, chiêng đệm theo từng tiết

Đội tế mặc áo thụng (áo dài rộng tay, thường màu lam hoặc đỏ tuỳ vai và tuỳ làng), đội mũ hoặc khăn xếp, đi hia hoặc giày vải. Chủ tế thường mặc màu khác để dễ phân biệt.

Chọn ai làm chủ tế

Hương ước nhiều làng ghi điều kiện chọn chủ tế khá chặt. Những tiêu chí lặp lại nhiều nhất:

  • Cao tuổi, có danh vọng trong làng; xưa thường là người có phẩm hàm, khoa mục hoặc đứng đầu ngôi thứ (thứ bậc chỗ ngồi trong đình).
  • Gia đình "song toàn": vợ chồng còn đủ, con cháu đông đủ.
  • Không đang có tang, nhà không có việc bị coi là "uế".
  • Không phạm lỗi với làng, được dân làng tín nhiệm.
  • Trai giới trước lễ: tắm gội, ăn ở thanh tịnh, kiêng một số việc trong mấy ngày trước khi tế.

Xưa phụ nữ không đứng tế ở đình. Ngày nay nhiều nơi đã có đội tế nữ (còn gọi đội nữ quan), nhất là ở các đền thờ nữ thần và trong những dịp lễ hội lớn. Đó là sự điều chỉnh của từng cộng đồng, không có một quy định chung bắt buộc.

Trình tự một buổi tế cổ truyền

Mỗi làng có biến thể riêng, nhưng khung chung khá giống nhau. Dưới đây là các tiết chính, kèm câu xướng âm Hán Việt và nghĩa:

  1. Khởi chinh cổ (nổi chiêng trống): đánh trống, chiêng mở đầu, thường ba hồi.
  2. Nhạc sinh tựu vị, chấp sự giả các tư kỳ sự (phường nhạc vào chỗ, người chấp sự ai lo việc nấy).
  3. Bồi tế, chủ tế tựu vị (vào vị trí đứng tế).
  4. Nghinh thần (đón thần): cả đội lạy, thường bốn lạy, tiếng xướng "cúc cung bái" (cúi mình lạy), "hưng" (đứng dậy), "bình thân" (đứng thẳng).
  5. Nghệ quán tẩy sở (đến chỗ rửa tay), thuế cân (lau tay): chủ tế rửa tay tượng trưng cho sự sạch sẽ.
  6. Thượng hương (dâng hương): nội tán dẫn chủ tế lên trước hương án, quỳ dâng hương.
  7. Hành sơ hiến lễ (dâng rượu lần thứ nhất): chủ tế đến chỗ để rượu, chấp sự rót rượu, rồi dâng lên trước thần vị.
  8. Độc chúc (đọc văn tế): cả đội quỳ, người độc chúc đọc chúc văn.
  9. Hành á hiến lễ, hành chung hiến lễ (dâng rượu lần thứ hai, thứ ba), lặp lại các động tác.
  10. Ẩm phúc, thụ tộ (uống rượu phúc, nhận lộc): chủ tế uống chén rượu và nhận phần lễ vật đã dâng, coi như thần ban phúc lại cho làng.
  11. Tạ lễ (lạy tạ), phần chúc (đốt văn tế), lễ tất (lễ xong).

Phần đi lại giữa các tiết có bước chân riêng: tiến lên, lui về theo lối đi đã định sẵn, không đi tắt, mỗi bước theo nhịp trống. Ở những đội tế lâu năm, động tác đều và chậm đến mức trông như một điệu múa.

Văn tế: cấu trúc chứ không phải bài để chép

Văn tế (còn gọi chúc văn) xưa viết bằng chữ Hán, nay nhiều làng đọc bằng bản dịch tiếng Việt hoặc đọc song song. Mỗi làng tự soạn hoặc giữ bản riêng; không có một bài "chuẩn" dùng chung. Cấu trúc thường gồm:

  • Mở đầu bằng thời gian: năm, tháng, ngày (theo lịch âm, có khi ghi cả năm dương).
  • Xưng danh: làng nào, chủ tế là ai, cùng toàn thể dân làng.
  • Kính cáo: đọc danh hiệu thần (đúng như trên sắc), nhắc công đức của thần.
  • Thưa việc: nhân dịp gì làng làm lễ, dâng những gì.
  • Lời cầu chung: cho làng yên, mùa màng tốt, người khoẻ mạnh.
  • Kết bằng chữ "Thượng hưởng" (mời thần hưởng lễ).

Người đọc văn tế thường được chọn vì giọng tốt và đọc chuẩn âm Hán Việt. Lối đọc ngân, có nhịp, gần với ngâm. Đọc xong, văn tế được đốt ở cuối buổi.

Những điều nên biết khi xem tế

  • Đứng ngoài khu vực tế, không đi ngang trước hương án khi đội đang hành lễ.
  • Muốn chụp ảnh thì đứng một bên, tắt đèn flash, không chen lên chiếu tế.
  • Nghe tiếng xướng để biết đang ở tiết nào: sau "độc chúc" là đọc văn, sau "ẩm phúc" là sắp xong.
  • Hỏi thủ từ hoặc ban tế lịch tế cụ thể; nhiều làng chỉ tế một hai buổi trong cả mùa hội.

Góc nhìn hôm nay

Tế lễ là phần ít người trẻ xem nhất trong hội làng, nhưng lại là phần giữ nhiều thứ nhất: âm Hán Việt, nhạc bát âm, cách đi đứng, quy tắc chọn người. Nhiều làng đã phải mời các cụ làng bên sang dạy lại đội tế vì người biết đã mất. Nếu làng mình còn đội tế, quay một buổi tế trọn vẹn, ghi lại các tiếng xướng là việc có ích hơn nhiều so với tưởng tượng.

Đọc thêm: Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục (phần tế tự ở làng); Toan Ánh, Nếp cũ – Hội hè đình đám. Ngôi thứ trong đình (ai ngồi chiếu nào) là chủ đề rộng hơn về làng xã xưa, chỉ nhắc ở đây.

Câu hỏi thường gặp

Chủ tế là gì?

Chủ tế là người đứng đầu đội tế, thay mặt cả làng dâng hương, dâng rượu và lạy thần. Xưa chủ tế thường là bậc cao niên có danh vọng, gia đình vợ chồng song toàn, không có tang và đã trai giới trước lễ.

Đông xướng, tây xướng là gì?

Đông xướng và tây xướng là hai người đứng hai bên khu vực tế, hô các tiết lễ bằng âm Hán Việt như "nghinh thần", "hành sơ hiến lễ", "độc chúc" để cả đội tế làm theo. Họ giống người điều khiển nghi thức của buổi tế.

Tam hiến lễ là gì?

Tam hiến lễ là ba tuần dâng rượu lên thần: sơ hiến (lần đầu), á hiến (lần thứ hai), chung hiến (lần cuối). Văn tế thường được đọc sau tuần sơ hiến. Đây là phần cốt lõi của một buổi tế cổ truyền.

Văn tế ở đình gồm những phần nào?

Văn tế thường mở đầu bằng năm tháng ngày, rồi xưng danh làng và chủ tế, đọc danh hiệu thần, thưa lý do làm lễ, nêu lời cầu chung cho làng và kết bằng chữ "Thượng hưởng". Mỗi làng giữ bản văn tế riêng, không có bài chung.

Phụ nữ có được đứng tế ở đình không?

Theo nếp xưa, phụ nữ không đứng tế ở đình. Ngày nay nhiều cộng đồng đã lập đội tế nữ, nhất là ở đền thờ nữ thần và các lễ hội lớn. Việc này tuỳ quyết định của từng làng.

Mở app Linh Thiêng

Viếng đền, phủ, miếu, núi thiêng dựng 3D cùng người thật

Mở app Linh Thiêng

Bài viết liên quan

Mở app Linh Thiêng

Viếng đền, phủ, miếu, núi thiêng dựng 3D cùng người thật

Mở app Linh Thiêng Xem app khác