Trong sách xưa, ba vị đầu của Tứ bất tử có mặt từ rất sớm: Việt điện u linh tập (bài tựa năm 1329) chép Tản Viên và Thánh Gióng dưới hiệu Xung Thiên Thần Vương; Lĩnh Nam chích quái chép truyện Tản Viên, truyện Đổng Thiên Vương và truyện Nhất Dạ Trạch về Chử Đồng Tử; Đại Việt sử ký toàn thư đưa một số truyện vào phần Ngoại kỷ. Liễu Hạnh chỉ xuất hiện ở văn bản muộn hơn nhiều, tiêu biểu là truyện của Đoàn Thị Điểm thế kỷ 18. Mỗi loại sách có một tính chất riêng; đọc đúng loại thì mới biết câu nào là sử chép, câu nào là thần tích.
Bốn loại văn bản cần phân biệt
| Loại | Ví dụ | Ai viết, để làm gì | Nên dùng để biết |
|---|---|---|---|
| Sách chép thần | Việt điện u linh tập, Lĩnh Nam chích quái | Nho sĩ, quan lại thời Trần – Lê gom truyện thần, truyện cổ | Người xưa kể và thờ các vị thế nào vào thời đó |
| Chính sử | Đại Việt sử ký toàn thư | Sử quan triều đình, chép việc nước | Cách nhà nước nhìn các truyền thuyết; nhà sử tự tách phần "Ngoại kỷ" |
| Thần tích, ngọc phả làng | Bản ghi "lý lịch" thần ở từng đình, đền | Làng lưu giữ, nhiều bản sao chép qua nhiều đời | Làng thờ ai, ngày sinh – hoá của thần, nghi lễ |
| Văn chương | Truyền kỳ tân phả | Nhà văn sáng tác dựa trên truyền thuyết | Hình tượng nhân vật trong văn hoá đọc |
Đây là bảng gốc để đọc mọi thứ về Tứ bất tử. Một câu trên bảng giới thiệu ở đền có thể lấy từ bất kỳ loại nào trong bốn loại trên; biết nó từ đâu ra thì biết nên tin đến mức nào.
Việt điện u linh tập: sách thần sớm nhất còn lại
Việt điện u linh tập (tạm hiểu: tập ghi các vị thần thiêng ở cõi Việt) được gắn với Lý Tế Xuyên, bài tựa đề năm 1329 thời Trần. Sách chia các vị thành nhóm: vua chúa các đời, bề tôi phò tá, và các vị thần gốc núi sông, khí thiêng. Tản Viên và Xung Thiên Thần Vương (tức Thánh Gióng) thuộc nhóm thần núi sông, khí thiêng.
Điểm đáng chú ý của sách là nhiều mục ghi kèm các mỹ tự (chữ khen tặng) mà triều Trần gia phong cho thần qua các năm. Như vậy, ngay từ thế kỷ 14, việc nhà nước phong thần đã được ghi chép, và Tản Viên, Thánh Gióng đã ở hàng được triều đình chú ý. Theo sách, chính vua nhà Lý đã phong cho Gióng hiệu Xung Thiên Thần Vương; vì thế danh hiệu này hay xuất hiện trên hoành phi ở đền Phù Đổng, đền Sóc.
Lưu ý: sách được bổ sung qua nhiều đời, có những bản tục biên thêm mục mới. Khi trích, nên ghi rõ bản dịch mình dùng.
Lĩnh Nam chích quái: kho truyện cổ
Lĩnh Nam chích quái (nhặt chuyện lạ đất Lĩnh Nam) là tập truyện dân gian được ghi chép từ khoảng thời Trần, sau được Vũ Quỳnh (bài tựa năm 1492) và Kiều Phú sửa định. Người biên soạn ban đầu thường được ghi là Trần Thế Pháp, nhưng việc này còn tranh luận.
Ba truyện liên quan Tứ bất tử:
- Truyện Đổng Thiên Vương: đặt vào đời Hùng Vương thứ sáu, kể chuyện giặc Ân và cậu bé làng Phù Đổng. Tên "Đổng Thiên Vương" trong sách này khác với "Xung Thiên Thần Vương" trong Việt điện u linh, nhưng là cùng một vị.
- Truyện Nhất Dạ Trạch: đặt vào đời Hùng Vương thứ ba, kể Chử Đồng Tử, Tiên Dung, việc học đạo và thành quách bay lên trời trong một đêm. Đây là nguồn chính về Chử Đồng Tử.
- Truyện Tản Viên: kể việc vua Hùng kén rể, cuộc tranh tài và giao tranh giữa thần núi và thần nước.
Cách đánh số "Hùng Vương thứ ba, thứ sáu, thứ mười tám" trong sách là cách sắp xếp của người biên soạn, không phải niên đại lịch sử. Đừng dùng những con số này để tính năm.
Đại Việt sử ký toàn thư: khi nhà sử chép truyền thuyết
Đại Việt sử ký toàn thư là bộ chính sử quan trọng nhất còn lại, do Ngô Sĩ Liên biên soạn năm 1479 trên nền các bộ sử trước, được bổ sung và khắc in vào cuối thế kỷ 17. Bộ sử chia làm Ngoại kỷ (chép từ thời Hồng Bàng đến trước nhà Đinh) và Bản kỷ (từ nhà Đinh trở đi). Kỷ Hồng Bàng mở đầu Ngoại kỷ, gồm những chuyện truyền lại từ thời quá xa mà nhà sử không có tư liệu để kiểm.
Trong kỷ Hồng Bàng, sử có chép chuyện Phù Đổng đánh giặc Ân và chuyện Sơn Tinh – Thuỷ Tinh. Xa hơn trong Ngoại kỷ, ở phần chép Triệu Việt Vương (Triệu Quang Phục, thế kỷ 6), sử ghi lời tương truyền rằng Chử Đồng Tử cưỡi rồng hiện xuống trao móng rồng. Chữ "tương truyền" là tín hiệu quan trọng: nhà sử ghi lại điều người ta kể, không xác nhận nó là sự thật.
Bài học khi đọc: việc một truyện có mặt trong chính sử không biến nó thành sự kiện lịch sử. Nó chỉ cho thấy đến thế kỷ 15, truyện đã đủ phổ biến và đủ quan trọng để nhà nước ghi vào sử.
Thần tích, ngọc phả: lý lịch của thần ở từng làng
Mỗi làng thờ Tản Viên, Thánh Gióng hay Chử Đồng Tử thường giữ một bản thần tích hoặc ngọc phả: văn bản chữ Hán kể gốc gác, công trạng, ngày sinh, ngày hoá của thần và các lần được phong. Nhiều bản ghi lạc khoản (dòng ghi người soạn, năm soạn) là do Nguyễn Bính, quan Hàn lâm thời Lê, soạn năm 1572, và được sao lại về sau.
Giới nghiên cứu cho rằng nhiều bản trong số đó là sao chép, chỉnh sửa muộn, có khi được viết lại theo một khuôn chung. Vì vậy thần tích rất quý để biết làng thờ ai và tế lễ thế nào, nhưng không nên dùng như sử liệu về thời các vua Hùng. Một vị Tản Viên trong thần tích làng này có thể có chi tiết khác hẳn với thần tích làng bên.
Liễu Hạnh: vắng mặt trong sách cổ
Liễu Hạnh không có trong Việt điện u linh tập hay Lĩnh Nam chích quái, điều dễ hiểu vì truyền thuyết đặt bà vào thế kỷ 16, sau khi hai sách đã thành hình. Văn bản đáng chú ý nhất về bà là Vân Cát thần nữ truyện trong Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm ở thế kỷ 18, cùng thần tích tại các nơi thờ lớn. Sự vắng mặt này là bằng chứng rõ nhất cho việc bà là vị muộn trong Tứ bất tử.
Đến thế kỷ 19, bộ địa chí Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn có mục đền miếu ở từng tỉnh, ghi nhận các đền thờ nhiều vị thần trong đó có các vị Tứ bất tử. Đây là nguồn tốt để biết vào thời Nguyễn, đền nào được nhà nước coi là quan trọng.
Mốc thời gian các văn bản
- 1329: bài tựa Việt điện u linh tập — Tản Viên, Xung Thiên Thần Vương.
- Thời Trần – 1492: Lĩnh Nam chích quái thành hình, Vũ Quỳnh viết tựa năm 1492 — Tản Viên, Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tử.
- 1479: Ngô Sĩ Liên biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư — Ngoại kỷ chép một số truyền thuyết.
- 1572 (theo lạc khoản): nhiều thần tích, ngọc phả làng ghi do Nguyễn Bính soạn.
- Thế kỷ 18: Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm — Liễu Hạnh.
- Thế kỷ 19: Đại Nam nhất thống chí — mục đền miếu các tỉnh.
Góc nhìn hôm nay: tự đọc nguồn
Không cần biết chữ Hán vẫn có thể đọc các sách này qua bản dịch tiếng Việt, có ở thư viện lớn và nhà sách. Cách đọc hiệu quả là đọc cùng một vị qua nhiều nguồn: ví dụ đọc mục Thánh Gióng trong Việt điện u linh, rồi truyện Đổng Thiên Vương trong Lĩnh Nam chích quái, rồi đoạn Phù Đổng trong Ngoại kỷ của Toàn thư. Sự khác nhau giữa ba bản là bài học hay nhất về cách một truyền thuyết lớn lên qua thời gian.
Ai muốn đi xa hơn có thể tìm đến kho sách của Viện Nghiên cứu Hán Nôm, nơi lưu nhiều bản thần tích, sắc phong; hoặc về chính đình, đền làng mình, hỏi xem làng còn giữ thần tích hay hòm sắc không. Đó là những văn bản sống, cần được giữ gìn và đọc cẩn trọng.
Câu hỏi thường gặp
Việt điện u linh tập là sách gì?
Việt điện u linh tập là sách chép các vị thần thiêng của nước Việt, gắn với Lý Tế Xuyên, có bài tựa năm 1329 thời Trần. Sách chép Tản Viên và Xung Thiên Thần Vương (Thánh Gióng) cùng nhiều vị thần khác, kèm các mỹ tự được triều đình phong tặng.
Lĩnh Nam chích quái có những truyện nào về Tứ bất tử?
Lĩnh Nam chích quái có truyện Đổng Thiên Vương (Thánh Gióng), truyện Nhất Dạ Trạch (Chử Đồng Tử) và truyện Tản Viên. Sách không có Liễu Hạnh vì bà là vị xuất hiện muộn.
Đại Việt sử ký toàn thư có chép Thánh Gióng không?
Có. Toàn thư chép chuyện Phù Đổng đánh giặc Ân ở kỷ Hồng Bàng thuộc phần Ngoại kỷ, gồm những chuyện truyền lại từ thời xa xưa. Việc được chép vào sử không có nghĩa đó là sự kiện đã được kiểm chứng.
Thần tích, ngọc phả có đáng tin không?
Thần tích, ngọc phả rất quý để biết làng thờ ai, tế lễ thế nào. Nhưng nhiều bản ghi do Nguyễn Bính soạn năm 1572 được giới nghiên cứu cho là sao chép, chỉnh sửa muộn, nên không nên dùng như sử liệu về thời Hùng Vương.
Vì sao sách cổ không có Liễu Hạnh?
Vì truyền thuyết đặt Liễu Hạnh vào khoảng thế kỷ 16, sau khi Việt điện u linh tập và Lĩnh Nam chích quái đã thành hình. Văn bản tiêu biểu về bà là Vân Cát thần nữ truyện của Đoàn Thị Điểm ở thế kỷ 18.