Linh ThiêngWiki
Tìm
Tứ bất tử

Sơn Tinh – Thuỷ Tinh trong đời sống làng ven sông Đà, sông Hồng

Với làng ven sông Đà, sông Hồng, truyện Sơn Tinh – Thuỷ Tinh là lời giải thích mùa lũ hằng năm, sinh ra tục thờ thần núi, miếu trên gò và tục ngữ đoán nước.

Sơn Tinh – Thuỷ Tinh trong đời sống làng ven sông Đà, sông Hồng

Với người làng ven sông Đà, sông Hồng, truyện Sơn Tinh – Thuỷ Tinh không chỉ là truyện cổ mà là lời giải thích mùa lũ năm nào cũng đến: "năm năm báo oán, đời đời đánh ghen". Từ cách hiểu ấy sinh ra cả một nếp sống: đình ven sông thờ Đức Thánh Tản, miếu đặt trên gò cao, lễ cầu an trước mùa nước, hội tạ ơn khi nước rút, và một kho tục ngữ đoán lũ. Bài này đi qua những tục ấy theo lời kể dân gian và sử chép, không kể lại truyện.

Địa lý thật phía sau truyện

Truyện đặt cuộc giao tranh ở đúng một vùng có thật. Sông Đà chảy từ vùng núi Tây Bắc xuống, men theo chân núi Ba Vì rồi đổ vào sông Hồng ở khu vực ngã ba Trung Hà, giữa Phú Thọ và Hà Nội ngày nay. Xuôi thêm một quãng, ở vùng Bạch Hạc (Việt Trì), sông Hồng nhận tiếp nước sông Lô. Một ngọn núi lớn đứng sát chỗ nhiều dòng sông gặp nhau: không nơi nào hợp hơn để kể chuyện thần núi chống thần nước.

Lũ sông Đà nổi tiếng lên nhanh và mạnh vì lòng sông dốc, chảy qua vùng núi mưa nhiều. Khi lũ sông Đà gặp lũ sông Hồng, nước dưới xuôi dâng cao trong thời gian ngắn. Người xưa không có trạm đo thuỷ văn, nhưng họ thấy rõ quy luật: nước lên hằng năm, có năm lên dữ, rồi lại rút. Truyện kể Thuỷ Tinh năm nào cũng dâng nước đánh Sơn Tinh, và năm nào cũng thua: đó chính là chu kỳ ấy, được kể bằng ngôn ngữ thần thoại.

Một câu để nhớ truyện, phần còn lại là đời sống

Tóm trong một câu: hai vị thần cùng hỏi cưới con gái vua Hùng, Sơn Tinh mang lễ vật đến trước nên được vợ, Thuỷ Tinh đến sau nổi giận dâng nước đánh, Sơn Tinh bốc đồi dời núi chặn lại. Truyện có trong Lĩnh Nam chích quái, sau được Đại Việt sử ký toàn thư chép lại ở kỷ Hồng Bàng, phần mở đầu Ngoại kỷ, nơi gom những chuyện truyền lại từ thời xa xưa.

Ca dao giữ lại cái kết mở của truyện:

Núi cao sông hãy còn dài,

Năm năm báo oán, đời đời đánh ghen.

Cái kết "không bao giờ xong" này là điểm khác biệt lớn với nhiều truyện thần thoại. Người làng ven sông không được hứa một chiến thắng vĩnh viễn; họ được nhắc rằng việc chống lũ là việc của mỗi năm.

Lịch nước và lịch hội: đọc cùng nhau

Đặt lịch nông vụ cạnh lịch lễ hội ở vùng thờ Đức Thánh Tản, sẽ thấy hai thứ khớp nhau khá rõ. Bảng dưới là cách đọc gợi ý theo âm lịch, xấp xỉ, mỗi vùng có thể lệch.

Khoảng thời gian (âm lịch)Việc đồng và nướcSinh hoạt tín ngưỡng thường gặp
Tháng Giêng – tháng HaiNước cạn, chăm lúa chiêmHội làng, hội đền đầu năm, cầu mùa, cầu an
Tháng Tư – tháng NămGặt chiêm, kịp trước mùa nướcLễ cơm mới ở một số làng
Tháng Sáu – tháng TámMùa nước lớn, canh đêÍt hội lớn; lễ ở đình, miếu bến nước khi cần
Tháng Chín – tháng MườiNước rút, cấy mùa, gặt mùaHội mùa thu, lễ tạ; đền Và có kỳ hội khoảng rằm tháng Chín

Không nên ép mọi hội vào khuôn này, vì ngày hội của mỗi làng còn gắn với ngày sinh, ngày hoá của thần theo thần tích riêng. Nhưng cái nhịp chung "cầu trước, tạ sau" thì rất đậm ở vùng ven sông.

Những tục quanh mùa lũ

Đình ven sông thờ thần núi

Nhiều làng ven sông Đà, sông Hồng thờ Tản Viên, hoặc bộ ba Tản Viên – Cao Sơn – Quý Minh, làm thành hoàng. Lựa chọn này có lý riêng của nó: làng sợ nước thì thờ vị thần đã chặn được nước. Bài vị ngài trong hậu cung đình là một lời khẳng định của cộng đồng rằng làng đứng về phía núi.

Miếu trên gò, đất thờ không xâm phạm

Miếu, đình ở vùng bãi thường được dựng trên gò đất cao. Theo lời kể ở nhiều nơi, khi nước to, người làng rước bài vị, sắc phong lên chỗ cao hơn nữa để giữ. Đất gò thờ được kiêng đào bới, kiêng lấn chiếm. Nhìn thực tế, đó cũng là những chỗ đất ít ngập nhất trong làng, nơi người và trâu bò có thể lánh tạm.

Kiêng huý tên thần

Như nhiều làng thờ thần khác, làng thờ Đức Thánh Tản có tục kiêng huý: không đặt tên người, không gọi tên vật trùng với tên huý của thần. Mức độ kiêng mỗi làng một khác, nay phần lớn chỉ còn giữ trong ngày tế lễ.

Cầu an và tạ ơn

Trước mùa nước, một số làng làm lễ ở đình hoặc miếu bến nước để cầu cho đê vững, nước thuận. Khi nước rút, mùa màng giữ được thì làm lễ tạ. Lễ thường giản dị, do chức sắc trong làng đứng tế, lễ vật là sản vật của chính đồng ruộng ấy.

Tục ngữ đoán nước: kinh nghiệm thật trong lời ví

Bên cạnh tục thờ, người ven sông giữ một kho câu nói để đoán thời tiết và mùa nước. Vài câu quen thuộc:

  • "Tháng Bảy kiến bò, chỉ lo lại lụt": kiến tha trứng lên cao là dấu hiệu sắp mưa lớn.
  • "Mống dài trời lụt, mống cụt trời mưa": dựa vào hình cầu vồng để đoán mưa nhiều hay ít.
  • "Lúa chiêm lấp ló đầu bờ, hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên": tiếng sấm đầu mùa mang mưa, lúa chiêm nhờ đó mà trổ.

Những câu này không thay được bản tin thuỷ văn, nhưng cho thấy người xưa quan sát tự nhiên kỹ thế nào. Truyện thần giải thích "vì sao có lũ"; tục ngữ trả lời "khi nào lũ đến". Hai thứ đi cùng nhau trong đời sống làng.

Sử chép chuyện đắp đê: "bốc đồi dời núi" bằng tay người

Nếu Sơn Tinh dời núi bằng phép, thì người thật chặn nước bằng đê. Đại Việt sử ký toàn thư chép năm 1108, thời Lý Nhân Tông, đắp đê ở phường Cơ Xá, thường được coi là một trong những ghi chép sớm về đê sông Hồng ở kinh thành. Năm 1248, thời Trần Thái Tông, triều đình cho đắp đê dọc hai bờ sông lớn từ đầu nguồn đến bờ biển, gọi là đê Đỉnh Nhĩ, và đặt chức quan chuyên trông coi đê.

Đọc truyện Sơn Tinh cạnh những dòng sử ấy, có thể thấy truyện là phần "tâm thức", còn đê là phần "hành động" của cùng một cuộc sống chung với nước kéo dài hàng nghìn năm.

Góc nhìn hôm nay

Làng ven sông bây giờ có đê kiên cố, có hồ chứa thượng nguồn, có dự báo lũ. Nhưng những đình thờ Đức Thánh Tản vẫn còn, và đáng để hiểu chúng như một kho ký ức về lũ. Một bài vị, một gò miếu, một câu tục ngữ đều là dấu vết của những năm nước lên.

Vài việc có thể làm tiếp:

  1. Đứng ở vùng ngã ba Trung Hà hoặc chân núi Ba Vì nhìn ra sông Đà, sẽ hiểu ngay vì sao truyện đặt ở đây.
  2. Về đình làng mình, xem thành hoàng là ai, đình có nằm trên gò không, các cụ còn nhớ năm nước to nào.
  3. Đọc Lĩnh Nam chích quái bản dịch, rồi đọc kỷ Hồng Bàng trong Toàn thư để so hai cách chép.
  4. Tìm đọc các công trình về văn hoá xứ Đoài và văn hoá đồng bằng sông Hồng của giới nghiên cứu văn hoá dân gian.

Câu hỏi thường gặp

Truyện Sơn Tinh – Thuỷ Tinh giải thích hiện tượng gì?

Truyện giải thích hiện tượng lũ lụt hằng năm ở đồng bằng Bắc Bộ, nhất là lũ sông Đà và sông Hồng. Chi tiết Thuỷ Tinh năm nào cũng dâng nước rồi thua chính là chu kỳ nước lên rồi rút được kể bằng ngôn ngữ thần thoại.

Sơn Tinh – Thuỷ Tinh đánh nhau ở đâu?

Theo truyền thuyết, cuộc giao tranh diễn ra quanh núi Ba Vì và sông Đà, gần chỗ sông Đà đổ vào sông Hồng ở khu vực ngã ba Trung Hà. Đây là vùng nhiều dòng sông hợp lưu dưới chân một ngọn núi lớn.

Vì sao làng ven sông thờ Tản Viên?

Làng sợ nước thì thờ vị thần đã chặn được nước. Nhiều làng ven sông Đà, sông Hồng thờ Tản Viên hoặc bộ ba Tản Viên – Cao Sơn – Quý Minh làm thành hoàng để cầu che chở trước mùa lũ.

"Năm năm báo oán, đời đời đánh ghen" nghĩa là gì?

Câu ca dao nói Thuỷ Tinh không bao giờ thôi thù Sơn Tinh, năm nào cũng dâng nước đánh. Ý sâu hơn là lũ lụt không mất đi, việc chống lũ là việc phải làm mỗi năm.

Sử có chép chuyện đắp đê thời xưa không?

Có. Đại Việt sử ký toàn thư chép năm 1108 thời Lý đắp đê Cơ Xá, và năm 1248 thời Trần đắp đê Đỉnh Nhĩ dọc hai bờ sông lớn, đặt quan chuyên trông coi đê.

Mở app Linh Thiêng

Viếng đền, phủ, miếu, núi thiêng dựng 3D cùng người thật

Mở app Linh Thiêng

Bài viết liên quan

Mở app Linh Thiêng

Viếng đền, phủ, miếu, núi thiêng dựng 3D cùng người thật

Mở app Linh Thiêng Xem app khác