Giỗ đầu (tiểu tường) là lễ giỗ tròn một năm âm lịch kể từ ngày mất; giỗ hết (đại tường) là giỗ tròn hai năm, đánh dấu tang sắp mãn. Sau đó, theo gia lễ xưa còn lễ đàm tế để chính thức bỏ tang, rồi từ đây mỗi năm làm giỗ thường, gọi là cát kỵ (giỗ lành). Các mốc này đến từ phép để tang ba năm của Nho giáo, được người Việt giữ và giản lược dần theo thời gian.
Gốc của các mốc: tang ba năm
Tục để tang cha mẹ ba năm có từ Nho giáo. Sách Luận ngữ chép chuyện học trò Tể Ngã chê ba năm là dài, Khổng Tử đáp đại ý: con sinh ra ba năm mới rời lòng cha mẹ, nên để tang ba năm là lẽ thường. Ở Việt Nam, các sách gia lễ – phổ biến nhất là cuốn thường gọi Thọ Mai gia lễ – quy định chi tiết từng mốc. Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục đầu thế kỷ 20 đã ghi lại cách người Việt thực hành.
"Ba năm" trong gia lễ thực ra không đủ ba năm lịch: tang được tính là 27 tháng, kết thúc bằng lễ đàm tế. Chính vì thế mới có hai mốc giỗ đầu – giỗ hết rồi thêm vài tháng.
Dòng thời gian từ ngày mất đến giỗ thường
Bảng dưới tóm theo nếp Bắc Bộ được Phan Kế Bính và Toan Ánh ghi chép. Nhiều gia đình hiện nay đã bỏ bớt hoặc gộp một số lễ; mỗi vùng, mỗi tôn giáo cũng có cách riêng.
| Mốc (tính theo âm lịch) | Tên lễ | Ý nghĩa |
|---|---|---|
| Ngày thứ 3 sau khi chôn | Tam nhật, mở cửa mả | Con cháu ra thăm mộ, đắp lại mộ cho chắc |
| Mỗi 7 ngày, trong 7 tuần | Tuần thất (lễ tuần) | Cúng mỗi tuần; ảnh hưởng của Phật giáo |
| Ngày thứ 49 | Chung thất | Lễ tuần cuối; nhiều nhà làm lễ lớn, cầu siêu ở chùa |
| Ngày thứ 100 | Tốt khốc | "Thôi khóc": từ đây thôi khóc hằng ngày, bớt cúng cơm |
| Tròn 1 năm | Tiểu tường (giỗ đầu) | Giỗ đầu tiên; vẫn trong tang, còn gọi là giỗ khóc |
| Tròn 2 năm | Đại tường (giỗ hết) | Giỗ lớn thứ hai; tang sắp mãn |
| Khoảng tháng thứ 27 | Đàm tế (trừ phục) | Lễ bỏ tang, đốt hoặc cất áo tang; trở lại đời thường |
| Hằng năm sau đó | Cát kỵ (giỗ thường) | Giỗ tưởng nhớ, không còn tang |
Giỗ đầu: tiểu tường
Chữ "tường" (祥) nghĩa là điềm lành; "tiểu tường" là lễ lành nhỏ. Tên gọi nghe lạ vì giỗ đầu thường là lễ buồn nhất: người thân mới mất một năm, gia đình còn để tang, nhiều người vẫn khóc. Trong dân gian vì thế còn gọi giỗ đầu là giỗ khóc, đối với giỗ thường sau này là giỗ "lành".
Một vài điểm hay được hỏi:
- Tính ngày thế nào? Theo âm lịch, đúng ngày mất của năm sau. Nhiều gia đình làm vào ngày hôm trước hoặc gom vào ngày nghỉ để con cháu về đủ; cách làm này phổ biến và không ai coi là sai.
- Vì sao giỗ đầu thường lớn hơn? Vì đây là dịp họ hàng, làng xóm, bạn bè người mất đến thắp hương lần đầu sau tang lễ. Xưa còn là dịp gia đình trả lễ những người đã giúp khi có tang.
- Có phải mời thầy cúng? Không bắt buộc. Gia lễ giao cho con trưởng làm chủ lễ. Gia đình theo Phật giáo có thể mời sư tụng kinh, đó là lựa chọn theo niềm tin, không phải điều kiện.
Giỗ hết: đại tường, và lễ đàm tế
Giỗ hết là giỗ tròn hai năm. "Đại tường" là lễ lành lớn – tang đã gần mãn. Theo gia lễ, sau đại tường khoảng ba tháng là đàm tế: lễ trừ phục, tức cởi bỏ tang phục. Người con thôi đội khăn tang, gia đình trở lại sinh hoạt bình thường; xưa từ lúc này mới được cưới xin, đi thi, nhận chức.
Ngày nay rất nhiều gia đình gộp đàm tế vào giỗ hết, coi giỗ hết là lễ bỏ tang. Đây là sự giản lược hợp lý, được chấp nhận rộng rãi. Có nơi còn tính tang theo cách khác (ví dụ một số gia đình theo đạo, gia đình ở thành phố chỉ để tang đến 49 hoặc 100 ngày). Không có cách nào "chuẩn" duy nhất; nên theo nếp của họ và sự đồng thuận trong gia đình.
Liên hệ với tục cải táng
Ở nhiều vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ có tục cải táng (bốc mộ, sang cát): sau khoảng ba năm, mộ hung táng (chôn lần đầu) được cải sang mộ cát táng (chôn lần hai, lâu dài). Chữ "cát" ở đây cùng nghĩa với "cát" trong "cát kỵ": lành, yên. Thời điểm cải táng thường sau khi mãn tang, nhưng không trùng nhau ở mọi nơi. Nam Bộ và nhiều vùng khác không có tục này. Xu hướng hoả táng hiện nay cũng khiến tục cải táng thưa dần.
Cát kỵ: giỗ thường hằng năm
Hết tang thì mỗi năm vào ngày mất, gia đình làm giỗ thường. Ở nhiều nơi gọi là "cát kỵ" hay "kỵ nhật" (ngày kỵ). Giỗ thường không còn không khí tang, mà là dịp tưởng nhớ và sum họp. Người Việt hay nói "giỗ ông", "giỗ bà", "giỗ cụ" – mỗi người được thờ có một ngày giỗ riêng.
Xưa, gia đình theo nếp gia lễ thờ bốn đời (kỵ, cụ, ông, cha). Người ở đời thứ năm trở lên được "đưa lên" thờ chung ở nhà thờ họ, không làm giỗ riêng ở nhà nữa. Ngày nay nhiều nhà vẫn làm giỗ ông bà, cha mẹ; còn cụ kỵ xa hơn thì gộp vào một ngày hoặc để chi trưởng lo.
Về ngày trước giỗ (lễ tiên thường, cáo giỗ) và mâm cỗ giỗ: đây là chủ đề riêng về ẩm thực lễ nghi, có site khác trong hệ viết kỹ. Ở đây chỉ cần biết: theo nếp Bắc Bộ, ngày hôm trước có lễ báo với tổ tiên rằng mai là ngày giỗ, nhiều nơi có thêm việc ra mộ.
So sánh nhanh: giỗ đầu – giỗ hết – giỗ thường
| Giỗ đầu | Giỗ hết | Giỗ thường | |
|---|---|---|---|
| Tên chữ | Tiểu tường | Đại tường | Cát kỵ, kỵ nhật |
| Thời điểm | Tròn 1 năm | Tròn 2 năm | Hằng năm sau khi mãn tang |
| Còn tang không | Còn | Sắp mãn (thường gộp đàm tế) | Không |
| Không khí | Buồn, đông khách | Trang trọng, kết thúc tang | Sum họp gia đình |
| Quy mô thường gặp | Lớn nhất | Lớn | Tuỳ gia đình, có thể giản dị |
Góc nhìn hôm nay: nhớ ngày, giữ nghĩa
Với người trẻ được giao giữ bàn thờ, câu hỏi khó nhất thường không phải "cúng gì" mà là "ngày giỗ của ai, vào hôm nào". Vài việc cụ thể:
- Lập một bảng: tên người mất, quan hệ, ngày mất âm lịch, năm mất. Chia sẻ cho anh chị em, con cháu.
- Đặt nhắc lịch theo âm lịch trên điện thoại (nhiều ứng dụng lịch hỗ trợ). Âm lịch lệch dương lịch mỗi năm, nhớ theo dương lịch là sai.
- Với năm có tháng nhuận: người mất trong tháng nhuận thì giỗ tính thế nào là chuyện mỗi nhà một cách (phổ biến là giỗ vào tháng chính, tức tháng không nhuận). Nên thống nhất trong gia đình.
- Giản lược không có nghĩa là bớt lòng. Một bữa cơm gia đình đủ người, vài câu chuyện về người đã khuất, có khi nhiều nghĩa hơn mâm cao cỗ đầy.
Đọc thêm: Phan Kế Bính Việt Nam phong tục, các mục về tang chế và giỗ tết; Toan Ánh Nếp cũ – Con người Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
Giỗ đầu là sau bao lâu?
Giỗ đầu là tròn một năm âm lịch kể từ ngày mất, tên chữ là tiểu tường. Nhiều gia đình làm sớm hơn một hai ngày hoặc vào ngày nghỉ để con cháu về đủ.
Giỗ hết là gì?
Giỗ hết là giỗ tròn hai năm, tên chữ là đại tường. Theo gia lễ xưa, sau đó khoảng ba tháng có lễ đàm tế để bỏ tang; nay nhiều nhà gộp lễ bỏ tang vào giỗ hết.
Cát kỵ nghĩa là gì?
Cát kỵ là giỗ thường hằng năm sau khi đã mãn tang. "Cát" nghĩa là lành, đối lại với giỗ đầu còn trong tang, dân gian gọi là giỗ khóc.
Lễ đàm tế là gì?
Đàm tế là lễ trừ phục, tức bỏ tang, theo gia lễ xưa làm vào khoảng tháng thứ 27 sau ngày mất. Sau lễ này con cháu thôi mặc tang phục và trở lại sinh hoạt bình thường.
Vì sao gọi là tang ba năm mà chỉ có 27 tháng?
Theo gia lễ Nho giáo, tang cha mẹ gọi là ba năm nhưng tính thực tế là 27 tháng, kết thúc bằng lễ đàm tế. Con số này đã được các sách gia lễ quy định từ xưa.
Tuần 49 ngày và 100 ngày có ý nghĩa gì?
Ngày 49 (chung thất) là lễ tuần cuối trong bảy tuần cúng sau khi mất, chịu ảnh hưởng Phật giáo. Ngày 100 (tốt khốc) nghĩa là thôi khóc, từ đây gia đình bớt cúng hằng ngày.