Linh ThiêngWiki
Tìm
Đình làng & Thành hoàng

Đình Nam Bộ thờ ai: Bổn cảnh Thành hoàng, tiền hiền và Nguyễn Hữu Cảnh

Đình Nam Bộ thờ Bổn cảnh Thành hoàng được triều Nguyễn sắc chung, cùng tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ, nhiều nơi phối thờ Nguyễn Hữu Cảnh. Khác đình Bắc Bộ ở đâu.

Đình Nam Bộ thờ ai: Bổn cảnh Thành hoàng, tiền hiền và Nguyễn Hữu Cảnh

Đình Nam Bộ thường thờ Bổn cảnh Thành hoàng, nghĩa là vị thần bảo hộ chính vùng đất của làng, phần lớn được triều Nguyễn sắc phong chung dưới danh hiệu này mà không gắn với một nhân vật cụ thể. Bên cạnh đó là ban thờ tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ (những người mở đất, dựng làng), nhiều đình phối thờ Nguyễn Hữu Cảnh, người kinh lược đất Đồng Nai – Gia Định năm 1698, cùng một loạt ban thờ phụ: Hội đồng, Tả ban – Hữu ban, Thần Nông, Sơn Quân. Khác đình Bắc Bộ ở chỗ thần ít mang tên riêng, nhiều ban thờ hơn, và trung tâm của năm là lễ Kỳ Yên có hát bội.

Ai lớn lên ở Bắc rồi vào Nam dự lễ đình thường bất ngờ: không có hậu cung đóng kín với một vị thần có tích dài, mà là gian chánh điện bày nhiều bàn thờ, sắc phong được rước từ nhà ông Từ ra, và một sân khấu hát bội ngay trong đình.

"Bổn cảnh Thành hoàng" nghĩa là gì

"Bổn cảnh" là "cõi đất này". Bổn cảnh Thành hoàng là vị thần trông coi chính vùng đất làng đang ở. Làng Nam Bộ phần lớn mới lập từ thế kỷ 17 đến 19, người đến khai hoang từ nhiều nơi, không mang theo một vị thần chung có tích rõ. Khi xin sắc, triều Nguyễn phong cho thần làng danh hiệu chung này, thường kèm các mỹ tự. Nhiều đình còn giữ sắc phong thời Tự Đức, giữa thế kỷ 19.

Đó là điểm khác căn bản với Bắc Bộ. Ở Bắc, thần làng thường có tên, có thần tích, có ngày sinh ngày hoá. Ở Nam, thần là "thần của đất", gắn với cộng đồng đang sống trên đất ấy hơn là với một nhân vật lịch sử. Một cách hiểu phổ biến: người Nam Bộ thờ chính vùng đất đã cưu mang họ.

Những ai được thờ trong một ngôi đình Nam Bộ

Ban thờThờ aiVị trí thường gặp
Chánh điện, bàn thờ ThầnBổn cảnh Thành hoàng (thần được sắc phong)Gian giữa chánh điện, trang trọng nhất
Tả ban, Hữu banCác quan văn, quan võ theo hầu thầnHai bên bàn thờ Thần
Hội đồngCác vị thần chung, "hội đồng" các đấng thiêngGian trước hoặc ngay sau cửa vào
Tiền hiền, hậu hiềnNgười khai khẩn đất, người lập làng, xây đình, làm việc nghĩaHai bên hoặc gian sau
Nhân thần phối thờNguyễn Hữu Cảnh, có nơi thờ các vị có công khác ở địa phươngTuỳ đình, có khi có điện riêng
Miếu, ban phụThần Nông, Sơn Quân (thần núi rừng, gắn hình tượng cọp), Thổ thần; một số nơi có Ngũ Hành, Ông TàMiếu nhỏ trong sân hoặc góc đình

Thờ Bà ở Nam Bộ (Bà Chúa Xứ, Thiên Hậu, Ngũ Hành) là một mảng riêng mà mieuba.com đã viết kỹ; Ông Tà có bài riêng trong chuyên mục Thần dân gian. Ở đây chỉ cần biết những vị ấy có thể xuất hiện ở miếu phụ quanh đình.

Tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ

Hai cụm từ này gần như luôn có mặt trên bài vị đình Nam Bộ. Tiền hiền khai khẩn là những người đi trước, phát hoang, mở ruộng. Hậu hiền khai cơ là những người đến sau, dựng nền móng cho làng: lập chợ, đào kênh, xây đình. Đình không thờ riêng từng người bằng tên (có nơi có ghi), mà tôn chung cả lớp người ấy.

Về ý nghĩa, ban thờ tiền hiền là lời cảm ơn của cộng đồng gửi những người đã chịu cực đầu tiên. Ở một vùng đất mới, nhiều người chết vì sốt rét, thú dữ, lũ lụt khi khai hoang; thờ họ là cách làng nhớ rằng đất này có được bằng công sức chứ không tự nhiên mà có. Chuyện tiền hiền, hậu hiền là ai được nói kỹ hơn ở site lapcong; ở đây chỉ bàn chỗ của họ trong đình.

Nguyễn Hữu Cảnh: vì sao nhiều đình Nam Bộ thờ ông

Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh (còn ghi là Nguyễn Hữu Kính, tước Lễ Thành hầu) vào kinh lược vùng Đồng Nai. Theo Đại Nam thực lục, ông lập phủ Gia Định, đặt dinh Trấn Biên ở xứ Đồng Nai và dinh Phiên Trấn ở xứ Sài Gòn, chia đặt làng xã, chiêu mộ lưu dân. Đây được coi là mốc tổ chức hành chính đầu tiên của người Việt ở Nam Bộ. Ông mất năm 1700 trên đường trở về sau một chuyến hành quân.

Vì vai trò ấy, nhiều làng Nam Bộ tôn ông như người khai sáng vùng đất, thờ trong đình bên cạnh Bổn cảnh Thành hoàng, có nơi thờ làm thần chính. Những nơi thờ ông được nhắc nhiều là đền thờ ở Cù lao Phố (Biên Hoà, Đồng Nai) và nơi thờ ở cù lao Ông Chưởng (An Giang), vùng gắn với những năm cuối đời ông.

Ngoài Nguyễn Hữu Cảnh, một số nhân vật thế kỷ 19 cũng được dân Nam Bộ thờ trong đình hoặc đền riêng, như Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá (nay thuộc An Giang). Lê Văn Duyệt có Lăng Ông Bà Chiểu là nơi thờ riêng, thuộc chuyên mục đền thờ vua và anh hùng.

Đình Nam Bộ khác đình Bắc Bộ ở đâu

Khía cạnhĐình Bắc BộĐình Nam Bộ
Thần chínhThường có tên, có thần tích riêng, có ngày sinh, ngày hoáPhần lớn là Bổn cảnh Thành hoàng, danh hiệu chung
Số ban thờTập trung vào thần chính, thêm ban tiền hiềnNhiều ban: Thần, Tả ban – Hữu ban, Hội đồng, tiền hiền – hậu hiền, miếu phụ
Nơi thần ngựHậu cung đóng kínChánh điện, thường mở cửa để người dân vào lễ
Sắc phongCất trong hòm ở hậu cung hoặc nhà thủ từThường giữ ở nhà ông Từ hoặc ban quý tế, rước về đình trong lễ thỉnh sắc
Lễ chínhHội xuân, thu; ngày sinh, hoá của thầnLễ Kỳ Yên (cầu an), thêm lễ Hạ điền, Thượng điền
Diễn xướngChèo, ca trù, quan họ, trò diễn tích thầnHát bội cúng đình, diễn ở nhà võ ca
Người lo việc đìnhHội đồng kỳ mục, ông từ, ông đámBan quý tế với chánh bái, hương cả, hương chủ…; ông Từ giữ đình

Về kiến trúc, đình Nam Bộ thường gồm nhiều nếp nhà nối tiếp, trong đó có nhà võ ca để hát bội, chánh điện để thờ, cùng nhà khách, nhà bếp phục vụ lễ. Phần chạm khắc và trang trí mái thuộc các chuyên mục khác; ở đây chỉ nói chức năng thờ tự.

Lễ Kỳ Yên và chuyện thỉnh sắc

Lễ Kỳ Yên (cầu an) là lễ lớn nhất trong năm của đình Nam Bộ, mỗi làng một ngày riêng. Trình tự thường có thỉnh sắc (rước sắc phong từ nơi cất về đình), túc yết (lễ ra mắt thần), đàn cúng, rồi hát bội. Bài Lễ Kỳ Yên ở đình Nam Bộ trong chuyên mục Lễ hội đền kể kỹ nghi thức; phần cỗ thuộc site daitiec.

Điểm đáng chú ý là vai trò của sắc phong. Vì thần không có tượng, không có tích dài, nên đạo sắc là hiện thân rõ nhất của thần trong lễ. Rước sắc là phần trang trọng nhất, ai được rước, đi theo đường nào đều có lệ.

Góc nhìn hôm nay

Đình Nam Bộ kể một câu chuyện riêng: câu chuyện của những người đến vùng đất mới, không mang theo thần của quê cũ, nên thờ chính đất đã nuôi mình và những người đi trước đã mở đất. Khi đến một ngôi đình ở miền Tây hay Đông Nam Bộ, thử tìm các bài vị tiền hiền, hậu hiền và hỏi ông Từ đình có sắc năm nào, có thờ Nguyễn Hữu Cảnh không. Những ngôi đình dễ đến để so sánh: đình Bình Thuỷ (Cần Thơ), đình Phong Phú (TP.HCM), đình Thông Tây Hội (TP.HCM), đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh ở Cù lao Phố (Đồng Nai).

Đọc thêm: các sách của nhà văn Sơn Nam về đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam; Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí (tư liệu về đất Gia Định đầu thế kỷ 19).

Câu hỏi thường gặp

Bổn cảnh Thành hoàng là ai?

Bổn cảnh Thành hoàng là vị thần bảo hộ chính vùng đất của làng, "bổn cảnh" nghĩa là cõi đất này. Phần lớn đình Nam Bộ được triều Nguyễn sắc phong thần dưới danh hiệu chung này, không gắn với một nhân vật lịch sử cụ thể.

Đình Nam Bộ thờ những ai?

Ngoài Bổn cảnh Thành hoàng, đình Nam Bộ thường có ban Tả ban – Hữu ban, Hội đồng, tiền hiền khai khẩn – hậu hiền khai cơ, nhiều nơi phối thờ Nguyễn Hữu Cảnh, cùng các miếu phụ như Thần Nông, Sơn Quân.

Vì sao nhiều đình Nam Bộ thờ Nguyễn Hữu Cảnh?

Năm 1698 Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược đất Đồng Nai, lập phủ Gia Định, đặt dinh Trấn Biên và Phiên Trấn, chia đặt làng xã. Dân Nam Bộ tôn ông như người khai sáng vùng đất nên thờ trong đình hoặc lập đền riêng.

Đình Nam Bộ khác đình miền Bắc thế nào?

Thần đình Bắc thường có tên và thần tích riêng, thờ trong hậu cung đóng kín. Đình Nam Bộ phần lớn thờ Bổn cảnh Thành hoàng, có nhiều ban thờ hơn, chánh điện thường mở, sắc phong được rước từ nhà ông Từ về trong lễ Kỳ Yên có hát bội.

Tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ là gì?

Tiền hiền khai khẩn là những người đi trước phát hoang mở ruộng; hậu hiền khai cơ là những người đến sau dựng nền móng cho làng như lập chợ, xây đình. Đình Nam Bộ thờ chung cả lớp người ấy để nhớ công mở đất.

Mở app Linh Thiêng

Viếng đền, phủ, miếu, núi thiêng dựng 3D cùng người thật

Mở app Linh Thiêng

Bài viết liên quan

Mở app Linh Thiêng

Viếng đền, phủ, miếu, núi thiêng dựng 3D cùng người thật

Mở app Linh Thiêng Xem app khác