Linh ThiêngWiki
Tìm
Lễ hội đền truyền thống

Lễ Kỳ Yên đình Nam Bộ: thỉnh sắc, túc yết, hát bội và trình tự cầu an

Lễ Kỳ Yên là lễ cầu an lớn nhất năm của đình Nam Bộ: thỉnh sắc, túc yết, cúng tiền hiền, xây chầu hát bội, chánh tế, hồi sắc. Mỗi đình theo ngày lệ riêng.

Lễ Kỳ Yên đình Nam Bộ: thỉnh sắc, túc yết, hát bội và trình tự cầu an

Lễ Kỳ Yên là lễ cầu an lớn nhất trong năm của đình làng Nam Bộ, tổ chức một lần (có nơi hai lần) theo ngày lệ riêng của từng đình, thường kéo dài hai đến ba ngày. Trình tự phổ biến gồm: thỉnh sắc (rước sắc phong thần về chánh điện), túc yết (lễ ra mắt thần trong đêm), cúng tiền hiền – hậu hiền và chiêu binh, xây chầu mở màn hát bội, chánh tế, rồi hồi sắc đưa sắc về chỗ cũ. "Kỳ Yên" (祈安) nghĩa là cầu cho được yên ổn.

Kỳ Yên là gì và khác hội đình miền Bắc ở đâu

Đình Nam Bộ ra đời theo bước người Việt khai khẩn đất phương Nam từ thế kỷ 17 – 18. Làng mới lập, dân từ nhiều nơi đến, đình là nơi gắn họ thành một cộng đồng. Lễ Kỳ Yên là dịp cả làng cùng cầu cho mưa thuận gió hoà, người yên vật thịnh, làng không dịch bệnh.

So với hội đình miền Bắc, Kỳ Yên có vài điểm khác rõ:

Hội đình miền Bắc (phổ biến)Kỳ Yên đình Nam Bộ
Vị thầnThành hoàng có tên, tích riêng (nhân thần, thiên thần)Phần lớn thờ "Bổn cảnh Thành hoàng", vị thần không có tên riêng, giữ đất một vùng
Trọng tâm nghi lễRước, tế, lễ hèm, nhiều trò hộiThỉnh sắc, túc yết, chánh tế, hát bội
Diễn xướngChèo, quan họ, ca trù, hát Xoan tuỳ vùngHát bội (tuồng) là gần như bắt buộc
Người lo việcHội đồng kỳ mục, ngôi thứ đình trungBan Quý tế (hội đồng hương chức) với các chức Hương cả, Hương chủ, Chánh bái…
Thời điểmPhần lớn tháng Giêng – tháng BaTheo ngày lệ riêng mỗi đình, rải khắp năm

Sắc phong và "Bổn cảnh Thành hoàng"

Sắc phong là văn bản của triều đình phong tặng danh hiệu cho thần. Thời Nguyễn, phần lớn đình Nam Bộ được ban sắc chung cho "Bổn cảnh Thành hoàng" (vị thần giữ đất bản cảnh, tức vùng này), thường được nói là đợt ban sắc thời Tự Đức. Vì thế, với nhiều làng Nam Bộ, tờ sắc chính là "thân thể" của vị thần: không có tượng, không có tích, chỉ có sắc phong và bài vị.

Điều đó giải thích vì sao lễ thỉnh sắc quan trọng đến vậy. Bên cạnh Thành hoàng, đình Nam Bộ còn thờ các vị phối tự như tiền hiền (người có công khai khẩn), hậu hiền (người có công xây dựng làng sau), Thần Nông, Bạch Mã Thái Giám (ở nhiều đình), các quan quân trận vong. Chi tiết về sắc phong có bài riêng trong mục Đình làng và Thành hoàng.

Trình tự nghi thức Kỳ Yên

Mỗi đình có lệ riêng, có đình bỏ bớt, có đình thêm. Khung chung được nhiều tư liệu ghi nhận, trong đó có các khảo cứu của nhà văn Sơn Nam (Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam), như sau:

  1. Lễ Thỉnh sắc: Ban Quý tế mặc áo thụng, khăn đóng, cùng đội lân, nhạc lễ, rước hòm sắc bằng long đình từ nơi cất giữ (nhà một chức sắc, hoặc khám thờ trong đình) về đặt ở chánh điện. Ở làng ven sông có khi rước bằng ghe.
  2. Lễ Túc yết: "Túc" là đêm, "yết" là ra mắt. Đây là lễ chính vào đêm trước ngày tế, Ban Quý tế dâng lễ vật, ra mắt thần, báo cáo việc làng. Lễ làm trang nghiêm, có nhạc lễ, có đọc văn.
  3. Cúng tiền hiền, hậu hiền: tưởng nhớ những người lập làng, làm ở các ban thờ hai bên hoặc nhà riêng.
  4. Cúng chiêu binh, cô hồn: ở một góc ngoài sân, cúng cho binh lính trận vong, người chết không nơi nương tựa, mang ý không bỏ sót ai trong ngày làng cầu an.
  5. Lễ Xây chầu và hát bội: người được làng tôn trọng nhất (thường là Chánh bái hoặc Hương cả) đánh ba hồi trống chầu, đọc lời khai chầu, mở màn đêm hát bội dâng thần.
  6. Lễ Chánh tế: sáng ngày chính, đội tế làm lễ tế Thành hoàng theo nghi thức ba tuần rượu, đọc văn tế (chúc văn).
  7. Lễ Hồi sắc: kết thúc lễ, rước sắc trở về nơi cất giữ.

Ở một số đình ven sông, ven biển còn có lễ tống phong, thả một chiếc ghe nhỏ bằng bẹ chuối mang lễ vật ra dòng nước, tượng trưng cho việc tiễn dịch bệnh, gió độc đi khỏi làng.

Hát bội: vì sao Kỳ Yên không thể thiếu

Hát bội (tuồng) là nghệ thuật sân khấu cung đình và dân gian, theo người Việt vào Nam từ thời chúa Nguyễn. Trong Kỳ Yên, hát bội không phải tiết mục văn nghệ, mà là lễ dâng thần: sân khấu dựng đối diện chánh điện, vở diễn hát cho thần xem trước, dân xem sau.

Chi tiết đáng xem nhất là trống chầu. Người cầm chầu ngồi bên sân khấu, đánh trống để khen hoặc chê diễn viên: tiếng "tùng" khen, tiếng gõ vào tang trống ("cắc") có thể là chê. Người cầm chầu phải là bậc am hiểu tuồng, được làng kính nể. Vai trò này cho thấy hát bội ở đình gắn chặt với nghi lễ và với trật tự của làng.

Những vở thường diễn là tuồng lịch sử, tuồng đề cao trung hiếu tiết nghĩa. Ngày nay, khi gánh hát bội thưa dần, nhiều đình phải mời gánh từ xa hoặc thay bằng cải lương, đờn ca tài tử.

Ban Quý tế: ai lo lễ Kỳ Yên

Ban Quý tế (hay hội đồng hương chức) là những người lo việc đình. Các chức danh cũ thường gặp:

  • Hương cả: người đứng đầu, thường cao tuổi, có uy tín.
  • Hương chủ, Hương sư, Hương trưởng: các chức phụ trách những việc khác nhau.
  • Chánh bái, Phó bái: người đứng chủ tế và phụ tế trong các lễ.
  • Ông từ (từ giữ): người trông đình quanh năm, lo hương khói.

Ngày nay tên gọi có thể khác, nhưng tinh thần vẫn là người làng tự lo việc làng. Muốn tìm hiểu một đình, hỏi ông từ hoặc một người trong Ban Quý tế là đường ngắn nhất.

Đi dự lễ Kỳ Yên: ứng xử và quan sát

  • Hỏi ngày lệ: mỗi đình một ngày, thường gắn với ngày nhận sắc phong hoặc ngày lệ cũ của làng. Hỏi ông từ hoặc đọc thông báo dán ở đình.
  • Xem lễ Túc yết: đêm trước ngày chính, ít khách hơn, không khí trang nghiêm, dễ quan sát trình tự.
  • Đêm hát bội: ngồi ở hàng ghế sau, nghe trống chầu. Có thể hỏi người ngồi cạnh tên vở; người lớn tuổi thường sẵn lòng kể.
  • Trang phục: lịch sự, kín đáo; không vào khu vực tế khi chưa được mời.
  • Công đức: tuỳ tâm, ghi vào sổ của Ban Quý tế; số tiền hỏi Ban Quý tế nếu cần, không có mức bắt buộc.

Mâm cỗ Kỳ Yên và phần ăn uống của làng là một chủ đề riêng, không bàn ở đây.

Góc nhìn hôm nay: Kỳ Yên giữa phố

Ở TP.HCM và các đô thị Nam Bộ, nhiều đình nay nằm giữa khu dân cư đông đúc, người làng cũ đã tản đi. Lễ Kỳ Yên vì thế trở thành dịp hiếm hoi người gốc làng quay về, gặp nhau, kể chuyện xưa. Một số đình đã được xếp hạng di tích, như đình Bình Thuỷ ở Cần Thơ (di tích quốc gia), nơi lễ Kỳ Yên còn giữ được quy mô lớn và nghi thức khá đầy đủ.

Muốn đọc thêm: Đình miếu và lễ hội dân gian miền Nam của Sơn Nam; các khảo cứu về đình Nam Bộ của Viện Nghiên cứu Văn hoá và các trường đại học khu vực phía Nam; tư liệu về hát bội ở Nhà hát Nghệ thuật Hát bội TP.HCM. Lần tới đi ngang một ngôi đình có cờ ngũ sắc và rạp hát dựng trước sân, có thể dừng lại: rất có thể làng đang làm Kỳ Yên.

Câu hỏi thường gặp

Lễ Kỳ Yên là gì?

Lễ Kỳ Yên là lễ cầu an hằng năm của đình làng Nam Bộ, cầu cho mưa thuận gió hoà, người yên vật thịnh. "Kỳ Yên" nghĩa là cầu cho được yên ổn.

Lễ Kỳ Yên gồm những nghi thức nào?

Trình tự phổ biến gồm thỉnh sắc, túc yết, cúng tiền hiền hậu hiền, cúng chiêu binh, xây chầu hát bội, chánh tế và hồi sắc. Mỗi đình có thể thêm bớt theo lệ riêng.

Lễ túc yết là gì?

"Túc" là đêm, "yết" là ra mắt. Lễ túc yết diễn vào đêm trước ngày tế chính, Ban Quý tế dâng lễ vật và ra mắt vị thần, báo cáo việc làng. Đây là một trong những lễ quan trọng nhất của Kỳ Yên.

Vì sao lễ Kỳ Yên có hát bội?

Hát bội trong Kỳ Yên là lễ dâng thần: sân khấu dựng đối diện chánh điện, vở diễn hát cho thần xem trước. Người cầm trống chầu đánh trống khen chê, cho thấy hát bội gắn chặt với nghi lễ của làng.

Lễ Kỳ Yên tổ chức vào tháng mấy?

Không có ngày chung cho mọi đình. Mỗi đình theo ngày lệ riêng, thường gắn với ngày nhận sắc phong hoặc lệ cũ của làng, có đình làm một lần, có đình làm hai lần trong năm.

Mở app Linh Thiêng

Viếng đền, phủ, miếu, núi thiêng dựng 3D cùng người thật

Mở app Linh Thiêng

Bài viết liên quan

Mở app Linh Thiêng

Viếng đền, phủ, miếu, núi thiêng dựng 3D cùng người thật

Mở app Linh Thiêng Xem app khác