Một lễ hội đền truyền thống gồm hai phần: phần lễ là các nghi thức dâng lên vị thần (mở cửa đền, mộc dục, rước, tế, lễ hèm, lễ tạ) và phần hội là sinh hoạt vui chơi của cả làng (vật, đu, cờ người, hát, thi tài). Lịch hội thường kéo dài vài ngày, mỗi ngày một việc: ngày chính hội là ngày tế và rước, còn đêm trước đó thường là lúc diễn nghi lễ kín. Biết cấu trúc này thì đọc lịch hội sẽ chọn được hôm có cái mình muốn xem, thay vì đến đúng ngày đông nhất mà chẳng thấy nghi lễ nào.
Phần lễ và phần hội: hai nửa của một ngày hội
Các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, từ Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục (đăng báo 1915) tới Toan Ánh trong Nếp cũ – Hội hè đình đám, đều tả hội làng theo một khung chung: có lễ thì mới có hội. Lễ là phần nghiêm, làm theo lệ làng, người làm phải chay tịnh, ăn mặc đúng phép. Hội là phần mở, ai cũng dự được, nơi trai gái gặp nhau, làng này sang xem làng kia.
Hai phần không tách rời. Nhiều trò ở phần hội thực chất là nghi lễ khoác áo vui chơi: cướp phết, kéo co, đánh cá, bơi chải đều mang ý cầu mùa hoặc tái hiện tích của vị thần. Người xem tưởng là trò vui, người làng hiểu đó là "trò thờ". Câu thường nghe "tiền lễ hậu hội" chỉ thứ tự: lễ làm trước, hội mở sau, và nghi lễ chính không bao giờ bị gạt sang bên vì phần vui.
Trình tự phần lễ: từ mở cửa đền đến giã đám
Mỗi đền có lệ riêng, ghi trong hương ước hoặc truyền miệng qua các cụ thủ từ (người trông đền). Nhưng phần lớn hội đền miền Bắc đi qua những bước sau.
| Bước | Thường diễn ra | Việc chính | Người ngoài xem được không |
|---|---|---|---|
| Mở cửa đền, cáo yết | Một vài ngày trước chính hội | Mở cửa hậu cung (gian trong cùng đặt ngai thần), dâng hương báo với thần làng sắp vào hội | Thường làm gọn, ít người |
| Mộc dục | Trước ngày rước | Lau rửa tượng, ngai, đồ thờ bằng nước sạch hoặc nước thơm; nhiều nơi lấy nước giếng đền hay nước rước từ sông về | Thường làm kín, chỉ người được chọn |
| Rước | Ngày chính hội hoặc ngày trước | Rước kiệu, rước sắc, rước nước, rước thần từ đền về đình hoặc ngược lại | Có, đây là phần dễ xem nhất |
| Tế | Ngày chính hội | Đội tế làm lễ dâng hương, rượu, đọc chúc văn | Có, đứng ngoài sân |
| Lễ hèm | Thường ban đêm | Diễn lại tích riêng của thần hoặc tục kiêng của làng | Nhiều nơi giữ kín |
| Lễ tạ, giã đám | Ngày cuối | Rước thần về chỗ cũ, đóng cửa hậu cung, chia lộc | Có, nhưng thưa người |
Mộc dục: tắm tượng trước ngày hội
"Mộc dục" nghĩa đen là tắm gội. Trước khi rước, tượng và đồ thờ được lau rửa, áo thần được thay mới. Nước dùng thường là nước giếng của đền hoặc nước lấy giữa dòng sông trong lễ rước nước. Nhiều làng chỉ cho người có đức, nhà không có tang, làm việc này, và làm lúc vắng người. Ý nghĩa đơn giản: đón năm mới, đón ngày hội thì sửa sang cho sạch, như nhà mình dọn bàn thờ cuối năm.
Tế: phần nghiêm nhất
Tế là nghi thức dâng lễ theo lối cổ, có chủ tế (người đứng đầu, thường là bậc cao tuổi, có đức hoặc có học), bồi tế đứng sau phụ, hai người xướng hô to từng động tác, và các chấp sự dâng đồ. Trình tự cốt lõi là ba tuần dâng rượu: sơ hiến, á hiến, chung hiến, ở giữa có đọc chúc văn (bài văn tế bằng chữ Hán hoặc chữ Việt, xưng danh làng và kể công thần). Ở nhiều đền hiện nay còn có đội tế nữ, mặc áo dài, cũng đi đúng các bước ấy.
Người đứng xem nên để ý tiếng xướng: mỗi lần người xướng hô, cả đội tế cùng bước, cùng lạy. Nhịp đó chính là "bài bản" của làng, mỗi làng một nhịp hơi khác. Chi tiết về tế ở đình làng có bài riêng trong mục Đình làng và Thành hoàng.
Lễ hèm: phần riêng của từng làng
"Hèm" là điều kiêng, điều riêng gắn với đời sống của vị thần: thần xưa làm nghề đánh cá thì làng diễn trò bắt cá, thần là tướng đánh giặc thì diễn trận, thần được kể là chết đuối thì kiêng một món ăn. Lễ hèm thường làm ban đêm, có khi tắt đèn, ít cho người ngoài xem. Trò Trám ở Tứ Xã (Phú Thọ) là một lễ hèm nổi tiếng. Muốn hiểu vị thần của một làng, xem lễ hèm cho biết nhiều hơn đọc bảng giới thiệu.
Lễ tạ và giã đám
Ngày cuối, làng làm lễ tạ, rước thần về hậu cung, đóng cửa. Sau đó là chia lộc: phần lễ vật được chia theo ngôi thứ trong làng, ai được miếng gì có lệ hẳn hoi. "Giã đám" là cách gọi dân gian cho việc kết thúc hội. Đây là lúc người làng thở ra, thường vắng khách, nhưng lại là lúc dễ trò chuyện với các cụ nhất.
Phần hội: những trò hay gặp và ý nghĩa của chúng
Phần hội thay đổi theo vùng. Đồng bằng sông Hồng có vật, đu, cờ người, chọi gà, bơi chải; trung du Phú Thọ có cướp phết, ném còn; Bắc Ninh có hát quan họ trên thuyền, dưới đình; ven biển có đua thuyền. Mấy điều nên biết:
- Trò tranh cướp (cướp phết, cướp cầu, cướp cờ) thường mang ý cầu mùa: bên giành được vật thiêng mang về làng mình thì năm đó được mùa. Đây là nghi lễ, không phải thi đấu thể thao.
- Trò kéo co, đánh đu có lớp nghĩa nông nghiệp và phồn thực, gắn với mong mưa thuận, người và lúa cùng sinh sôi.
- Vật là trò thượng võ, nhiều làng mở xới vật ngay sân đình, sân đền thờ tướng.
- Hát (quan họ, chèo, ca trù, hát Xoan ở Phú Thọ, hát bội ở Nam Bộ) vừa để mừng thần vừa để làng vui.
Ngày nay nhiều hội thêm hoạt động mới: giải bóng chuyền, văn nghệ, hội chợ. Không có gì sai, chỉ cần biết phần nào là lệ cũ, phần nào là thêm vào.
Mùa hội: vì sao hội dồn vào tháng Giêng
Câu "Tháng Giêng là tháng ăn chơi" phản ánh lịch nông nghiệp: sau vụ gặt tháng Mười và Tết, nông nhàn, làng có thời gian và lúa gạo để mở hội. Phần lớn hội đền miền Bắc rơi vào tháng Giêng đến tháng Ba âm lịch. Nhưng không phải tất cả: ngày hội chính thường là ngày sinh, ngày hoá (mất) hoặc ngày thắng trận của vị thần, nên có hội vào tháng Tám (giỗ Đức Thánh Trần ở Kiếp Bạc, 20 tháng Tám), có hội vào mùa thu.
Nhiều làng làm theo lệ "xuân thu nhị kỳ": lễ xuân cầu, lễ thu báo (mùa xuân cầu được mùa, mùa thu tạ ơn). Ở Nam Bộ, lễ cầu an của đình gọi là Kỳ Yên, thường vào đầu năm hoặc cuối năm âm lịch tuỳ đình.
Đọc lịch hội để biết hôm nào xem gì
Đây là phần mang về được. Khi ban quản lý di tích hay xã đăng lịch hội, thường có các dòng như "khai hội", "rước", "tế lễ", "lễ hèm", "bế mạc". Cách đọc:
- Tìm ngày rước: đây là phần đẹp nhất để chụp ảnh và cảm được không khí làng. Ra trước giờ rước nửa tiếng để đứng ở đoạn đường hẹp, nhìn rõ kiệu.
- Tìm giờ tế: tế thường vào buổi sáng ngày chính hội. Đứng phía sau đám đông, không chen lên sân tế.
- Để ý các dòng "đêm": lễ hèm, khai ấn, phát lương thường vào giờ Tý (khoảng 23 giờ đến 1 giờ sáng). Đây là lúc đông và chen nhất; nếu đi cùng trẻ nhỏ thì nên bỏ.
- Ngày "khai hội" có thể khác ngày chính hội: lễ khai mạc ngày nay do chính quyền tổ chức, có diễn văn, văn nghệ; nghi lễ cổ có khi lại vào hôm sau.
- Muốn yên tĩnh thì đi ngày cuối hoặc sau hội vài hôm: cửa hậu cung có khi còn mở, lễ vật còn bày, người trông đền rảnh để kể chuyện.
Ngày cụ thể từng năm thay đổi theo âm lịch và theo quyết định của ban tổ chức, nên luôn kiểm tra thông báo của ban quản lý di tích gần ngày đi.
Góc nhìn hôm nay: hội làng ở thế kỷ 21
Từ năm 2018, việc tổ chức lễ hội ở Việt Nam theo Nghị định 110/2018/NĐ-CP về quản lý và tổ chức lễ hội. Nhiều hội lớn đã được ghi vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia, một số được UNESCO ghi danh như Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc (2010), nghi lễ kéo co (2015). Đi kèm là những điều chỉnh: phát ấn có trật tự hơn, hạn chế rải tiền lẻ, chuyển một số nghi thức hiến sinh vào chỗ kín.
Với người đi hội, mấy điều giản dị giúp mình không trở thành gánh nặng cho làng:
- Ăn mặc kín đáo khi vào sân đền, đặc biệt khi đứng gần đội tế.
- Không chen vào đường rước, không chạm vào kiệu nếu không được mời.
- Hỏi trước khi chụp ảnh cận đội tế hoặc người trông đền.
- Đặt lễ, công đức vào đúng nơi quy định; không nhét tiền vào tay tượng, kẽ ngai.
- Muốn đọc thêm: Việt Nam phong tục (Phan Kế Bính), Nếp cũ – Hội hè đình đám (Toan Ánh), các sách về lễ hội cổ truyền của Viện Nghiên cứu Văn hoá.
Những bài tiếp theo trong mục này đi vào từng hội cụ thể: khai ấn đền Trần, phát lương Trần Thương, cướp phết Hiền Quan, trò Trám Tứ Xã, kéo co ngồi Thạch Bàn, rước kiệu, Kỳ Yên Nam Bộ, đền Bà Chúa Kho và các tục lệch cần nhìn lại.
Câu hỏi thường gặp
Lễ hội đền gồm những phần nào?
Gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ có mở cửa đền, mộc dục (lau rửa tượng), rước, tế, lễ hèm và lễ tạ. Phần hội là các trò vui và diễn xướng như vật, đu, cướp phết, kéo co, hát quan họ, hát Xoan.
Phần lễ và phần hội khác nhau thế nào?
Phần lễ là nghi thức dâng lên vị thần, làm theo lệ làng, người làm phải chay tịnh và được chọn. Phần hội là sinh hoạt mở cho mọi người cùng vui. Tuy vậy nhiều trò ở phần hội vốn là nghi lễ cầu mùa hoặc diễn lại tích thần.
Lễ hèm là gì?
Lễ hèm là nghi lễ riêng gắn với đời sống hoặc điều kiêng của vị thần làng, như diễn lại nghề cũ hay trận đánh của thần. Lễ hèm thường làm ban đêm và nhiều nơi giữ kín, chỉ người trong làng được dự.
Vì sao lễ hội đền thường vào tháng Giêng?
Vì tháng Giêng là thời nông nhàn sau vụ gặt và Tết, làng có thời gian và lương thực để mở hội. Tuy vậy ngày hội chính thường theo ngày sinh, ngày mất hoặc ngày thắng trận của vị thần, nên có hội rơi vào tháng Ba, tháng Tám hay mùa thu.
Đi lễ hội đền nên chọn ngày nào?
Muốn xem rước và tế thì đi ngày chính hội, đến sớm. Muốn yên tĩnh, dễ hỏi chuyện người trông đền thì đi ngày cuối hoặc vài hôm sau hội. Các nghi lễ giờ Tý như khai ấn, phát lương rất đông, không hợp với trẻ nhỏ.